<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307</id><updated>2011-04-22T02:00:05.849+08:00</updated><category term='2) Hướng Dẫn Sử Dụng'/><category term='5) Từ thiện'/><category term='4) Tiếp nhận nghi vấn'/><category term='3) Giải đáp thắc mắc'/><category term='****Nơi tiếp nhận ý kiến về việc xây dựng Blog'/><category term='1) Nội Qui Blog'/><title type='text'>Đạo Phật &amp; Cuộc Sống</title><subtitle type='html'>Chào mừng đến với Blog "Đạo Phật&amp;Cuộc sống".Đây là nơi tập hợp của những người yêu thích Đức Phật và Giáo Pháp của Ngài.</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>14</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-7245379999964278622</id><published>2007-10-19T00:59:00.000+08:00</published><updated>2007-10-19T00:59:36.793+08:00</updated><title type='text'>Phật Học Cơ Bản</title><content type='html'>Để tìm hiểu những thuật ngữ Phật học,những điểm đặc sắc của đạo Phật mời các bạn tham khảo địa chỉ dưới đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-phathoc-coban/phcb-index.htm"&gt;http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-phathoc-coban/phcb-index.htm&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là bộ sách chi tiết và đầy đủ nhất về đạo phật mà bất cứ người nào nghiên cứu về đạo phật cũng phải tham khảo qua.Trong đây chứa đầy đủ kiến thức phật học từ cơ bản đến nâng cao.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-7245379999964278622?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/7245379999964278622/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=7245379999964278622&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/7245379999964278622'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/7245379999964278622'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/10/pht-hc-c-bn.html' title='Phật Học Cơ Bản'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-6487665461262681695</id><published>2007-10-19T00:50:00.000+08:00</published><updated>2007-10-19T00:50:13.584+08:00</updated><title type='text'>Trí Tuệ trong đạo Phật</title><content type='html'>&lt;p&gt;(Tác giả:Trịnh Nguyên Phước)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đạo Phật, trí tuệ cũng được gọi là trí huệ, bởi vì cùng một chữ Hán có thể đọc là huệ hay là tuệ. Người Hoa thường đọc là huệ (tiếng quan hỏa đọc là "huậy"), trong khi người Việt hay dùng chữ tuệ hơn, với đa số những chữ ghép thuộc danh từ nhà Phật, như tuệ căn, tuệ giác, tuệ kiếm, tuệ lực, tuệ nhãn, tuệ tâm, tuệ tánh...&lt;br /&gt;Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ.&lt;br /&gt;Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật. Đạo Phật là con đường diệt khổ, vậy thì từ là đem vui, bi là cứu khổ, còn gì đúng hơn nữa khi nói đạo Phật là đạo của từ bi ?&lt;br /&gt;Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại đạo Phật trong hai chữ từ bi ? Liệu từ bi có đủ để định nghĩa đạo Phật, để phân biệt đạo Phật với các tôn giáo và triết thuyết khác ? Nói một cách khác, có thể nào xem từ bi như là một đặc điểm của đạo Phật ?&lt;br /&gt;Nhìn chung quanh, chúng ta thấy đạo giáo nào cũng chủ trương tình thương bao la, rộng lớn, như lòng bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của Mặc tử. Nhưng chỉ có đạo Phật mới nổi bật lên bằng sự đề cao trí tuệ. Có thể nói rằng trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một tôn giáo nào đặt trọng tâm vào vai trò của trí tuệ hơn là đạo Phật. Bởi vì Buddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là hiểu biết. Đức Phật là người đã hiểu biết trọn vẹn, đã tỉnh thức, đã giác ngộ, là người có trí tuệ vẹn toàn.&lt;br /&gt;Như vậy có thể nói rằng trí tuệ mới chính thực là đặc điểm, là nền tảng, là cốt tủy của đạo Phật.&lt;br /&gt;I)Trí tuệ là gì ?&lt;br /&gt;Trước hết, chúng ta phải hiểu rõ trí tuệ trong đạo Phật là gì, bởi vì trí tuệ có một ý nghĩa rất đặc biệt trong đạo Phật. Trí tuệ trong đạo Phật phải được phân biệt với quan niệm thông thường về trí tuệ.&lt;br /&gt;Theo nghĩa thông thường, trí tuệ là kết quả của hoạt động trí thức (intellect), dựa lên lý trí (raison), dùng đến lý luận, khái niệm, ngôn từ, và chủ yếu gồm những sự hiểu biết, những kiến thức đã được gom góp lại.&lt;br /&gt;Trong đạo Phật, trí tuệ cũng được gọi là trí huệ, bởi vì cùng một chữ Hán có thể đọc là huệ hay là tuệ. Người Hoa thường đọc là huệ (tiếng quan hỏa đọc là "huậy"), trong khi người Việt hay dùng chữ tuệ hơn, với đa số những chữ ghép thuộc danh từ nhà Phật, như tuệ căn, tuệ giác, tuệ kiếm, tuệ lực, tuệ nhãn, tuệ tâm, tuệ tánh... Tiếng Pali là pañña, tiếng Phạn là prajñâ, và khi phiên âm sang tiếng Hoa thì trở thành Bát Nhã (chữ ñ đọc như là nh của tiếng Việt).&lt;br /&gt;Triết lý Ấn Độ cổ xưa có 3 danh từ để chỉ định sự hiểu biết : ñâna (p) / jñâna (s), viññâna (p) / vijñâna (s) và pañña(p) / prajñâ (s).&lt;br /&gt;- Ñâna thường chỉ định sự hiểu biết thông thường, theo nghĩa rộng của nó. Trong một số kinh điển, người ta cũng gặp chữ ñâna dùng theo nghĩa pañña.&lt;br /&gt;- Viññâna là sự hiểu biết dựa lên lý trí, dùng phương pháp suy luận và phân tích.&lt;br /&gt;- Trong khi đó, pañña là trí huệ thâm sâu, sự hiểu biết toàn diện, có tính chất trực giác, không dựa lên lý luận, khái niệm, ngôn từ, mà vượt khỏi ngôn từ. Tiếng Pháp thường dịch là sagesse, connaissance profonde, transcendantale, hay cognition intégrale, nhưng những chữ đó vẫn chỉ diễn tả được một phần nào cái không thể diễn tả được.&lt;br /&gt;Chính vì khó dịch cho nên tại các nước Á châu, người ta thường giữ nguyên phiên âm chữ Phạn, Bát Nhã trí huệ (Hoa) hay hannya-chie (Nhật) để chỉ định trí tuệ trong đạo Phật.&lt;br /&gt;Trí tuệ Bát Nhã và trí tuệ thông thường, như khoa học chẳng hạn, còn khác nhau ở nơi đối tượng của sự hiểu biết. Như đức Phật đã nói rõ trong bài bài thuyết pháp "lá trong rừng Sinsapa", sự giảng dậy của ngài chỉ nhằm vào con đường giải thoát, là điều cấp bách và thiết thực nhất. Nếu so sánh khoa học và đạo Phật với những tia sáng, thì chúng ta có thể ví khoa học với ánh sáng tỏa khắp nơi, và đạo Phật với một tia laser tụ hết cả năng lực vào một điểm, tức là diệt khổ.&lt;br /&gt;Trong đạo Phật còn một danh từ nữa gần với huệ là giác (bodhi, phiên âm là Bồ đề). Giác là thức tỉnh, đối lại với ngủ mê. Vì vậy trong nghi thức tụng niệm, chúng ta thường gặp câu "... xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác". Và trong đạo Phật, giác ngộ và tuệ giác là mục đích của người tu Phật, đi theo gót của đức Phật Thích Ca, là vị "Chánh đẳng chánh giác"(samma-sambuddha), là người đã giác ngộ hoàn toàn.&lt;br /&gt;II)Trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy&lt;br /&gt;Vai trò của trí tuệ trong đạo Phật nguồn gốc (primitif) và đạo Phật Nguyên thủy (Theravada) rất rõ ràng, sáng sủa : trí tuệ là phương tiện duy nhất đưa tới giác ngộ, và giải thoát khỏi khổ đau. Bài "Trí tuệ trong đạo Phật" của HT Thích Minh Châu (trong site Internet Buddhasasana) đã trình bầy một cách minh triết và đầy đủ về vấn đề này. Tôi chỉ xin nhắc lại một vài điều căn bản trong giáo lý của đạo Phật Nguyên thủy.&lt;br /&gt;Nếu chúng ta lấy " vòng mười hai nhân duyên " (paticca-samuppâda) mà xét lại, thì chúng ta sẽ thấy đầu mối của sự khổ đau, của sự đọa đầy trong vòng trầm luân của con người chính là vô minh (avijjâ). Vì vô minh là đầu mối của vấn đề, cho nên trí tuệ chính là giải đáp của vấn đề.&lt;br /&gt;Trong " con đường chánh tám nẻo " (atthangika-magga), chánh kiến (sammâ-ditthi) và chánh tư duy (sammâ-sankappa) là hai nẻo thuộc về huệ (pañña), là giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhất của sự tu tập (trong khi chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giới, sila, và chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc về định, samâdhi). Dĩ nhiên sự tu tập theo đạo Phật không thể phân chia ra thành từng giai đoạn rõ rệt như vậy, và tám nẻo của con đường đó phải được đi đều với nhau, nhưng chúng ta cũng có thể nhận thấy trong sự phân chia đó môt trình tự phù hợp với những gì xẩy ra trong tâm lý con người. Phải nhiếp được thân khẩu ý (giới), thì mới tinh tấn, niệm và định tâm được (định), và như vậy thì mới hiểu và nhìn rõ được sự thật (huệ).&lt;br /&gt;Trong kinh Pháp Cú (Dhammapada), là một trong những kinh cổ xưa nhất của đạo Phật, có một phẩm nói về " người ngu và kẻ trí ". Ngu phải hiểu ở đây không phải là sự ngu dốt, đần độn, kém thông minh, thiếu kiến thức, mà phải hiểu như sự mê muội, đắm chìm trong những đam mê, ảo tưởng của cuộc đời. Trí, như đã nói trên, không phải là sự thông minh, uyên bác, mà là sự hiểu biết sâu xa, trọn vẹn, về con đường chánh, đưa tới an lạc và hạnh phúc. HT Minh Châu có lấy thí dụ một người có rất nhiều kiến thức về rượu, biết rõ những chất liệu của rượu, những tác động của rượu trên cơ thể, nhưng vẫn uống nhiều rượu, vẫn say và nghiện rượu, vẫn bị rượu chi phối. Như vậy thì người ấy có trí thức chứ không có trí tuệ về rượu, người đó là người ngu. Trái lại, một người hiểu biết về rượu, nhưng cũng biết rõ sự nguy hại của rượu, không uống rượu say, không nghiện rượu, vượt ra khỏi sự chi phối của rượu. Như vậy người ấy mới thật là có trí tuệ về rượu, người ấy mới là kẻ trí.&lt;br /&gt;Nói tóm lại, trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy có mặt trong suốt tất cả giáo lý căn bản của đạo Phật : " bốn sự thật, con đường tám nẻo, ba pháp ấn, lý nhân duyên "... và đóng một vai trò chủ chốt trên con đường đưa tới giải thoát và giác ngộ. Trí tuệ có nghĩa là hiểu biết trọn vẹn và hành trì theo Chánh Pháp, để phá bỏ màn vô minh và nhận chân sự thật.&lt;br /&gt;Trí tuệ trong đạo Phật Đại thừa&lt;br /&gt;Trí tuệ chính là sợi giây nối liền đạo Phật nguồn gốc, đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa (Mahâyâna). Người ta thường gọi Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada), tiền thân của đạo Phật Nguyên thủy (Theravada), là "Cổ phái Trí tuệ"(Ancienne Ecole de Sagesse), và gọi phái Trung Quán (Mâdhyamaka) của Đại thừa là "Tân phái Trí tuệ"(Nouvelle Ecole de Sagesse).&lt;br /&gt;Thật ra, như chúng ta được biết, trong lịch sử phát triển của đạo Phật, các trường phái Đại thừa phân chia ra làm hai khuynh hướng : một bên là trí tuệ và một bên là đức tin.&lt;br /&gt;Tiêu biểu nhất cho trí tuệ là hệ thống Bát Nhã, dựa lên bộ kinh đồ sộ Bát Nhã Ba La Mật Đa ( Prajñâpâramitâ-sûtra), (toàn bộ in ra được 600 quyển!), với hai bài kinh quan trọng nhất là Đại Bát Nhã Tâm Kinh (Mahâprajñâpâramitâ-hrdaya-sûtra) và Kinh Kim Cương (Vajrachchedika-prajñâpâramitâ-sûtra). Tinh thần Bát Nhã được triển khai bởi ngài Long Thụ (Nâgârjuna), cầm đầu phái Trung Quán (Mâdhyamaka), nhà luận sư nổi tiếng đã chứng minh một cách sắc bén rằng sự thật không thể nào hiểu thấu được bằng lý luận. Theo ngài, trí tuệ là con đường khó, mà đức tin là con đường dễ. Ngài giảng muốn hiểu giáo lý của đức Phật thì phải hiểu hai mức độ, hay đúng hơn hai kích thước của sự thật, sự thật tương đối (samvriti-satya) và sự thật tuyệt đối(paramartha-satya). Và sự thật tuyệt đối là tánh Không (sûnyatâ), là cái không thể nghĩ bàn, không thể nắm bắt bằng những khả năng thông thường của trí tuệ, mà chỉ có thấu hiểu được bằng trực giác, bằng thực nghiệm.&lt;br /&gt;Bài Đại Bát Nhã Tâm Kinh, tuy chỉ có 260 chữ, nhưng chứa đựng được tất cả cốt tủy của tinh thần Bát Nhã. Pâramitâ có nghĩa là vượt qua. Người ta có thể hiểu theo nghĩa vượt qua bên kia bờ, bên này là vô minh phiền não, bên kia là giác ngộ giải thoát, và trí tuệ Bát Nhã là con thuyền chở con người qua bên kia bờ sông. Nhưng đọc và thấm cả bài kinh, chúng ta mới thấy rằng trí tuệ theo tinh thần Bát Nhã rất là đặc biệt, có thể gọi là siêu việt. Trong bài kinh có câu " vô trí diệc vô đắc ", nghĩa là không có trí tuệ mà cũng không có chứng đắc. Sau khi khẳng định rằng " không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ", thì kinh nói rằng " không có vô minh, cũng không có hết vô minh, không có già chết, cũng không có hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc ", tức là tất cả những gì đã học trong giáo lý căn bản của đức Phật đều không có thật, đều là những chân lý tương đối, tạm bợ... Bởi vì tướng Không của các pháp là không sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt, không một không hai. Thấu được lẽ Không của các pháp, của mọi sự vật, mới là trí tuệ thực sự, vượt qua cả trí tuệ (au-delà de la sagesse). Đó mới là ý nghĩa của kinh Bát Nhã siêu việt, tức là Prajñâpâramitâ-sûtrâ, bộ kinh căn bản của Đại thừa.&lt;br /&gt;Trí tuệ trong Thiền tông&lt;br /&gt;Tinh thần Bát Nhã được tiếp nối trong Thiền tông Trung Hoa, từ vị sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ Ấn Độ qua vào thế kỷ thứ 6. Người ta thường gán cho ngài Bồ Đề Đạt Ma 4 câu thu gọn lại tôn chỉ của Thiền, là " Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật ". Nhưng thật ra, theo các nhà Phật học, thì lục tổ Huệ Năng mới là tác giả của tôn chỉ này. Và điểm quan trọng là ngài đã đánh dấu một khúc ngoặt, đã làm một cuộc cách mạng trong Thiền tông bằng cách thay thế quan niệm " khán tâm " bằng quan niệm " kiến tánh ".&lt;br /&gt;Theo ông Daisetz Suzuki, hai chữ " khán " và " kiến " đều có nghĩa là " nhìn ", song chữ " khán " có chữ " thủ " trên chữ " mục ", như bàn tay để trên mắt để che ánh sáng, với ý nghĩa " cố gắng nhìn " (hay là " nhòm, soi ", (regarder, scruter), trong khi đó " kiến " chỉ có chữ " mục " trên đôi chân, tức là " thấy ", một cách tự nhiên, không cố gắng (voir). Như vậy, quan niệm cổ điển của Thiền là " khán tâm ", cố gắng nhìn vào cái tâm của mình, soi cái tâm của mình, trong khi đó ngài Huệ Năng chủ trương " kiến tánh ", nhìn thấy cái tánh, cái Phật tánh trong mình, một cách tự nhiên và hồn nhiên, không cố gắng.&lt;br /&gt;Từ đó, cái nhìn của Thiền về trí tuệ trở nên vô cùng đơn giản : " mây tan thì trăng hiện ". Không cần phải mài viên gạch để mong nó trở thành tấm gương, không cần phải tự hỏi cây phướn động hay gió động. Chẳng nên phân tách, đắn đo, suy nghĩ, bởi vì chỉ cần một niệm dấy lên là bị sương mù cuốn đi xa ngàn dặm. Bởi vậy cho nên giác ngộ có thể tới từ một tiếng hét, từ một viên đá văng vào một khúc gỗ, một mảnh tượng Phật bùng cháy... Phật chính là tuệ giác, là ở trong tâm mình chứ không đâu xa lạ. Tìm trí tuệ ở đâu khác cũng là "ôm cây đợi thỏ" hay "khắc thuyền tìm kiếm".&lt;br /&gt;Thiền cũng ở trong đường hướng chung của Bát Nhã, không chấp trước, không phân biệt, không mong cầu, không trụ vào đâu. Chính " ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm " là câu trong kinh Kim Cương đã đả khai trí tuệ cho Lục tổ Huệ Năng và vua Trần Thái Tông.&lt;br /&gt;Con đường phát triển trí tuệ&lt;br /&gt;Làm thế nào để phát triển trí tuệ ? Đó là câu hỏi chung của những người tu học Phật.&lt;br /&gt;- Đối với người mới học Phật thì đạo Phật có vẻ phức tạp, với nhiều môn phái, kinh điển, không biết nên theo ai, bắt đầu bằng gì. Với niềm lo âu là nhỡ lầm thầy, lẫn sách thì có thể sai đường, mất thời giờ hay có khi có hại.&lt;br /&gt;- Đối với người đã lâu năm tu học Phật, thì nhiều khi thấy rằng mình tuy đã có khá nhiều hành lý về giáo lý, nhưng vẫn dậm chân tại chỗ, và thực tế mà nói vẫn chưa tiến được bao nhiêu (đôi khi có lẽ vì hành lý nặng quá!).&lt;br /&gt;Đạo Phật là một con đường thực nghiệm. Mỗi người tự rút ra những kinh nghiệm cá nhân, chỉ có giá trị cho chính mình. Nhưng dẫu sao, từ nhiều kinh nghiệm cá nhân, chúng ta cũng có thể rút ra một số bài học chung :&lt;br /&gt;1. Những lịch trình tu học Phật thường được theo từ xưa tới nay vẫn còn giá trị.&lt;br /&gt;* Đó là " tam vô lậu học ", tức là giới (sila), định (samâdhi) và huệ (pañña).&lt;br /&gt;* Đó là " văn, tư, tu ", tức là ba loại hiểu biết, được phân biệt trong Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga) : sự hiểu biết dựa lên học hỏi (sutta-maya-pañña), sự hiểu biết dựa lên suy tư (cinta-maya-pañña) và sự hiểu biết dựa lên tu tập (bhavana-maya-pañña).&lt;br /&gt;* Đó là " lục độ Ba la mật ", tức là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ.&lt;br /&gt;2. Trí huệ dĩ nhiên là giai đoạn cuối cùng và cao nhất. Nhưng chúng ta cũng không quên được vai trò cốt yếu của thiền định (bhavana hay jhâna / dhyâna) : chính nhờ thiền định mà đức Phật Thích Ca đã giác ngộ dưới gốc cây Bồ đề, và chỉ có thiền định mới giúp phát triển được trí huệ, nhờ hai phương pháp là chỉ (samatha, calme mental, tranquillity), tức là định (samâdhi), và quán (vipassana, vision pénétrante, insight). Một câu hỏi có thể đặt ra, nhưng có lẽ chỉ có những đương sự mới có thể trả lời được : tụng niệm (theo Tịnh Độ tông chẳng hạn) có thể đưa tới trạng thái chỉ (hay định), nhằm đi tới "nhất tâm bất loạn". Nhưng liệu tụng niệm có thể nào đưa tới trạng thái quán, và như vậy đưa tới huệ không ?&lt;br /&gt;3. Kinh điển có cần thiết hay không trong sự phát triển trí tuệ? Thiết tưởng đạo Phật là con đường trung đạo, cho nên cũng nên nhìn kinh điển trong tinh thần đó.&lt;br /&gt;Kinh điển chỉ là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng, cho nên không nên coi kinh điển là chính yếu, không nên bám víu vào kinh điển, và bù đầu bù óc vào kinh điển.&lt;br /&gt;Ngược lại, cũng không nên bác bỏ mọi kinh điển, bởi vì kinh điển có thể giúp mình tiến bước trên con đường tu học. Chúng ta nên nhớ rằng ngay cả những người có căn cơ xuất chúng như ngài Huệ Năng cũng nhờ nghe câu kinh mà ngộ đạo.&lt;br /&gt;III)Liên hệ giữa từ bi và trí tuệ&lt;br /&gt;Nói về trí tuệ sẽ rất thiếu sót nếu không nói tới những tương quan giữa từ bi và trí tuệ.&lt;br /&gt;Người ta thường cho rằng đạo Phật Nguyên Thủy đặt nặng về trí tuệ, trong khi đạo Phật Đại Thừa đặt nặng về từ bi. Sự thật không hẳn là như vậy.&lt;br /&gt;Trong kinh Từ Bi (Metta-sutta), thuộc hệ thống Pali, đức Phật đã dậy cho chúng ta phải thương yêu, cứu độ tất cả các chúng sanh, không phân biệt, không điều kiện, không giới hạn. Trong bài kinh này, ngài không nói tới những liên hệ mật thiết giữa trí tuệ và từ bi, nhưng nếu chúng ta hiểu rõ lý duyên khởi, là sự tương quan, tương duyên, tương tác, tương hữu giữa mọi sự vật, thì sự liên hệ mật thiết giữa từ bi và trí tuệ trở nên vô cùng sáng tỏ. Bởi vì tất cả chúng sanh đều có liên đới với nhau như anh em, bà con ruột thịt, cho nên sự khổ đau của chúng sanh cũng không khác gì sự khổ đau của chính mình.&lt;br /&gt;Với Đại Thừa, lý tưởng A La Hán được thay thế bằng lý tưởng Bồ Tát, và từ bi được đề cao bởi những nhân vật như ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti) : " Sở dĩ Bồ Tát bệnh là bởi vì chúng sanh bệnh. Bao giờ chúng sanh khỏi bệnh, thì Bồ Tát cũng khỏi bệnh". Trong Kinh cũng nhấn mạnh : " Có hai điều mà Bồ Tát phải ghi nhớ, là không bao giờ bỏ rơi chúng sanh, và nhìn thấy rõ rằng tất cả là Không".&lt;br /&gt;Có thể nói rằng từ bi có vững chắc được là nhờ nền tảng trí tuệ, và trí tuệ có phát triển được là nhờ ở từ bi.&lt;br /&gt;Thiếu trí tuệ thì từ bi sẽ có thể chỉ là cảm xúc nhất thời, và thiếu từ bi thì trí tuệ khó lòng được thể hiện. Trong hành động cứu độ chúng sanh, con người từ bi tự quên mình, thực nghiệm được thêm Vô ngã, tánh Không, và tự mở mang thêm trí tuệ. Tới khi không còn phân biệt giữa người cứu độ và người được cứu độ, thì lúc bấy giờ đã tự giải thoát hoàn toàn.&lt;br /&gt;Từ bi và trí tuệ đi đôi và gắn liền với nhau, vì từ nguồn trí tuệ mà suối từ bi tuôn chẩy, nhờ suối từ bi cho nên cây trí tuệ trổ hoa.&lt;br /&gt;Như vậy, trong đạo Phật, từ bi và trí tuệ bổ túc cho nhau, nương vào nhau mà hiện hữu, cũng như hai mặt của một bàn tay, hay đôi cánh của một con chim.&lt;br /&gt;Con chim bay xa, bay xa mãi, khi không còn thấy bờ bên này hay bên kia...&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tác giả Trịnh Nguyên Phước &lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-6487665461262681695?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/6487665461262681695/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=6487665461262681695&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/6487665461262681695'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/6487665461262681695'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/10/tr-tu-trong-o-pht.html' title='Trí Tuệ trong đạo Phật'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-4378218899761830939</id><published>2007-10-19T00:45:00.003+08:00</published><updated>2007-10-19T00:45:03.061+08:00</updated><title type='text'>Tinh thần tự do trong đạo Phật</title><content type='html'>(Thầy Nhất Hạnh giảng tại Úc -1996)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hôm nay chúng tôi đủ duyên qua đây, trước hết là thăm chư Tăng Ni cùng toàn thể quí Phật tử. Sau đó theo lời yêu cầu của quí vị, tôi có một thời pháp ngắn đề tài là “Tinh thần tự do của đạo Phật”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi nói tới tinh thần tự do của đạo Phật là nói tới mục đích cứu kính giải thoát. Tự do là nhân, giải thoát là quả. Từ nhân tự do đưa đến quả giải thoát. Bởi vậy người tu theo Phật phải thấm nhuần ý nghĩa tự do này. Có thế mới thực hiện được mục đích giải thoát tối hậu, vì cái nhân là yếu tố quyết định nhất để đưa đến cái quả. Tăng Ni cũng như Phật tử đều biết nói đến tu Phật là nói đến đạo giải thoát, nhưng nếu chúng ta chỉ biết quả giải thoát, mà không biết nhân nào để đưa tới quả giải thoát đó thì làm sao tu giải thoát được. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Muốn giải thoát sanh tử, trước hết chúng ta phải biết tinh thần tự do Phật dạy như thế nào. Ứng dụng được tinh thần tự do đó vào đời sống tu hành, ta mới có thể thu nhặt được kết quả tốt đẹp. Tinh thần tự do của đạo Phật khác hơn tự do ở thế gian. Tự do của thế gian là ta đòi tự do với người khác, còn tự do trong đạo Phật là tự do nơi chính mình, tự do của nội tâm, chớ không phải tự do ở ngoại cảnh. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên đường tu muốn thành đạt kết quả tốt đẹp, chúng ta phải biết tạo nhân tự do để đưa tới kết quả xứng đáng. Nhân tự do đó từ sự tu tập, không phải bỗng dưng mà có. Đó là điều quan trọng, chúng ta cần phải biết. Tất cả vui khổ trên thế gian này không phải bỗng dưng nó đến, đều do chúng ta tạo lập hoặc tu tập mà được. Vì vậy đạo Phật nói những khổ vui ấy không phải do áp lực của một đấng nào đặt ra cho ta, mà tự mình gây tạo lấy. Chính chúng ta là chủ nhân chọn vui hay chọn khổ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quí Phật tử ai cũng muốn vui, không ưa khổ. Như vậy chúng ta phải làm sao để được vui? Trong kinh, Phật thường nhắc câu: “Ta không có quyền ban vui hoặc giáng khổ cho ai hết.” Rõ ràng cái vui khổ là do chúng sanh tự tạo. Tạo nhân vui thì được quả vui, tạo nhân khổ thì chuốc quả khổ. Nhưng lâu nay chúng ta hay đổ thừa, một là đổ thừa trời, hai là đổ thừa số mạng. Tại trời khiến cho tôi khổ nên gặp việc gì khổ cũng kêu trời. Nếu không do trời đặt định thì số mạng đặt định. Cái số của tôi khổ hay cái số của tôi vui. Đó là hai ý niệm không đúng lẽ thật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong nhà Phật nói khổ vui không phải từ đâu đến, mà do tự chúng ta gây tạo nên. Điều này mới nghe quí vị thấy như khó hiểu nhưng lẽ thật là vậy. Ví dụ như có Phật tử gặp hoàn cảnh trái ngược liền bực bội than thở trách cứ. Làm như vậy có hết khổ không hay chỉ thêm khổ thôi? Ngược lại nếu Phật tử gặp khổ liền biết rõ khổ này không phải do ai đem đến mà do ta không khéo tu. Bởi thế bây giờ phải chịu khổ. Nghĩ như vậy thì không trách hờn ai, chỉ tự trách mình. Do đó không oán xã hội, không hờn người thân và mọi người chung quanh. Hiểu như vậy tự nhiên lòng mình bớt oán hờn, bớt thù hận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như bây giờ Phật tử gặp người hoạn nạn khó khổ trăm bề, ta tùy theo khả năng của mình, tìm cách giúp họ qua cơn khổ. Khi khổ họ khóc, bây giờ qua cơn khổ họ vui cười. Đó là ta tạo nhân tốt hay nhân xấu? Giúp cho người vui, qua cơn khổ thì họ thương mình. Đó là ta tạo một nhân tốt, nên được quả tốt là người quí mến. Nếu một xóm một làng có mười người, hai mươi người khổ, ta đều giúp như vậy thì xóm làng đó đối với mình tốt hay xấu? - Rất tốt, đó là do mình đã gieo nhân tốt. Ngược lại nếu trong xóm làng, ai ta cũng gây gổ hết thì họ thương hay ghét mình? - Rất ghét. Rõ ràng khổ vui đó không phải do trời định, mà do ta ứng xử với mọi người tốt hay xấu thôi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phật nói lẽ thật, chớ không đổ thừa viển vông. Nếu chúng ta muốn đời mình an vui, gặp những điều tốt thì phải sẵn sàng giúp đỡ những kẻ đau khổ buồn phiền cho họ bớt khổ, được vui. Như vậy đời mình nhất định sẽ được vui. Nhiều người nói mình có của giúp hết rồi, còn tiền nữa đâu mà vui? Quí vị nên nhớ người tốt bụng giúp kẻ này người kia, mới thấy như thiệt thòi nhưng thật ra họ lại có nhiều người khác sẵn sàng giúp trở lại, chớ không mất mát đi đâu. Cho nên đừng sợ vì tốt bụng mà nghèo đói. Chỉ những kẻ ích kỷ hẹp hòi mới nghèo khổ hoài, vì ai cũng ghét hết, nên đâu có giúp họ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc đời chúng ta đâu phải lúc nào cũng gặp cơ hội tốt. Nếu có phương tiện ta nên tranh thủ giúp người khác, để khi mình gặp hoạn nạn, người ta giúp trở lại. Còn khi đủ điều kiện mình không giúp đỡ ai hết, đến lúc gặp hoàn cảnh xấu ai cũng ngó lơ. Đó là vì ta không biết chọn con đường tốt. Đường tốt hay đường xấu đều do mình quyết định cả. Quí vị muốn đi con đường nào? Con đường hạnh phúc nhất là con đường đem đến cho mình an vui. Muốn thế ta phải ráng đem niềm vui đến cho mọi người chung quanh. Ngược lại, nếu ta đem đau khổ đến cho người cũng có nghĩa là ta đem đau khổ đến cho mình. Lẽ công bằng như vậy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phật tử cứ nghĩ tu là lên chùa tụng kinh. Lúc nào nghèo tụng kinh Pháp Hoa cho có tiền. Như vậy tụng kinh chỉ để cầu xin Phật ban cho mình được vui vẻ, giàu sang, hạnh phúc. Do đó Phật đã tuyên bố hẳn hoi rằng Ngài không có quyền ban ơn giáng họa cho ai cả. Rõ ràng chúng ta là đệ tử Phật mà làm trái lại những gì Ngài đã dạy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì thế tôi muốn nhắc lại cho tất cả thấy chúng ta tu là tu trên ba nghiệp: ý niệm, hành động, lời nói. Nếu muốn mọi điều tốt lành đến với mình thì ý niệm, hành động, lời nói của chúng ta phải tốt với mọi người. Nếu ý niệm, hành động, lời nói đối với mọi người xấu thì đừng mong quả tốt đến với mình. Đó là một lẽ thật. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có nhiều vị thắc mắc mình đối xử tốt với người khác mà thỉnh thoảng họ lại bất nghĩa với mình? Điều này cũng có xảy ra trong đời sống nhưng không nhiều lắm. Con người thường có bệnh ai xử xấu với mình thì nhớ đời, ai xử tốt với mình lại mau quên. Bởi vậy nên thấy người xấu nhiều, người tốt ít. Nhưng nếu như có người xử xấu với mình ta phải nghĩ sao? Tôi từng nói nếu ta tốt với người mà họ xử xấu với mình, ta đừng vội giận. Đó là vì nhân tốt của mình chưa đủ, chưa thật tốt nên người ta mới xấu với mình, chớ không phải họ không biết ơn, không biết nghĩa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ví như trước kia ta gây oán hờn với người nào đó một trăm phần. Bây giờ biết tu không gây oán hờn nữa, ăn ở hiền lành cho tốt. Nghĩ vậy ta xử sự tốt với họ. Nhưng ngày xưa do mình xấu với người ta một trăm phần trăm, bây giờ mới tốt có năm chục phần trăm, chưa đủ sức bù đắp với nhân xấu trước. Vì thế họ vẫn không tốt với mình. Thấy thế ta nổi giận, tại sao tôi tốt rồi mà chưa tốt lại với tôi? Tại cái tốt của tôi chưa đủ để họ hết giận. Bây giờ phải ráng tốt hơn nữa, tốt tới chừng nào đủ xóa hết nhân xấu trước thì họ hết giận. Đừng nghĩ người đó là kẻ phản bội, bởi trước mình làm họ giận một trăm phần, bây giờ mới tốt có năm chục phần, làm sao người ta hết giận được? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta cũng thế, nếu trước kia ai xử sự với mình xấu một trăm phần trăm, bây giờ họ mới sửa đổi, mới hiền lành với mình phần nào thôi, chưa đủ khỏa lấp sự bực bội trước, làm sao ta hết giận được? Chừng nào thấy người đó quả thật tốt bụng, quả thật hiền lành mình mới hết giận. Đó là lẽ đương nhiên thôi. Nên chúng ta xử tốt với ai, mà họ chưa tốt lại với mình thì biết rằng đó là vì trước kia ta đã làm khổ họ nhiều, bây giờ phải đền trả lại. Chúng ta chỉ thấy hiện tại mà đâu biết quá khứ. Nếu biết rõ quá khứ thì việc hiện tại sẽ dễ chấp nhận ngay. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như trên đã nói chúng ta có quyền chọn cho mình con đường tốt hay con đường xấu. Ở đây không ai muốn đi đường xấu hết, như vậy ta phải làm cho mọi người an vui, nhà Phật gọi đó là ban vui, tức lòng từ. Đừng gây khổ đau cho nhau nữa, nhà Phật gọi đây là cứu khổ, tức lòng bi. Gom chung cả hai tâm hạnh trên, gọi là tâm từ bi. Nếu không hiểu như vậy, lại cho rằng người ta ghét mình quá, thôi ta tụng kinh cầu Phật gia bị cho thiên hạ đừng ghét nữa. Tu như vậy có kết quả không? Tụng kinh mà gặp thiên hạ vẫn nói lời hung dữ, hành động thô xấu, ý niệm bất chánh thì càng làm cho người ta ghét thêm. Chúng ta không can đảm, không gan dạ nhìn sự thật, cứ né tránh, rồi đi cầu cứu chỗ này chỗ kia, không chịu ứng dụng tu hành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu khổ vui do tự mình chọn lựa thì chúng ta có tự do không? - Quá chừng tự do. Tự do chọn khổ, tự do chọn vui. Đã do mình chọn thì ta phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về sự chọn lựa ấy. Khi gặp khổ ráng chịu, gặp vui cũng không nghĩ may, nghĩ rủi, vì tất cả đều do ta tạo mà. Phật tử thường gặp việc tốt là may, gặp việc xấu là rủi. Nhưng hỏi may rủi từ đâu ra thì không biết. Nghĩ như vậy là phó thác cuộc sống này cho cái gì mình cũng không biết nữa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phật chỉ cho chúng ta thấy mình có quyền lựa chọn tốt xấu, tức Ngài muốn chúng ta ý thức được trách nhiệm của mình. Không đổ thừa, không trốn tránh trách nhiệm. Người biết rõ như thế là người có sức mạnh. Có hiểu đạo ta mới đủ khả năng, đủ sức mạnh sắp đặt cuộc đời mình, nếu không ta cứ cắm đầu ký thác gởi gắm đời mình cho ai cũng không biết. Thật nguy hiểm. Đó là tôi nói bước tự do thứ nhất. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến tự do thứ hai. Đạo Phật nói chúng ta muốn đi đâu thì tự chọn xe mà đi. Đi xa thì chọn xe chạy xa, đi gần thì chọn xe chạy gần. Tùy nhu cầu của mình mà chọn lựa. Trong nhà Phật có chia ra Ngũ thừa Phật giáo: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa. Thừa là cỗ xe, Ngũ thừa là năm cỗ xe. Trong năm cỗ xe đó chúng ta ưng chiếc nào thì chọn chiếc đó, Phật không bắt buộc. Ví dụ người nào muốn đời này làm người được an vui hạnh phúc, đời sau trở lại làm người được an vui hạnh phúc hơn nữa thì chọn cỗ xe Nhân thừa Phật giáo, tức là qui y Tam Bảo, giữ gìn năm giới, bảo đảm hiện tại tốt, đời sau trở lại làm người tốt hơn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai muốn đời sau tiến hơn đời này, được sanh vào cõi trời thì tu Thiên thừa Phật giáo. Giáo lý này dạy tu Thập thiện tức mười điều lành. Ngoài năm giới ra, quí vị tu thêm mấy điều lành thuộc về thân, miệng, ý. Khi nhắm mắt sẽ được sanh lên các cõi trời cao đẹp hơn cõi người. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người muốn đời này hay đời sau chứng quả Thanh văn thì phải bước vào hàng ngũ xuất gia như quí thầy quí cô, thọ giới Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo Ni. Giữ giới nghiêm chỉnh, thường hành thiền định để phát sanh trí tuệ, chứng quả A-la-hán, đó gọi là Thanh văn thừa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai muốn tu Duyên giác thừa thì lấy mười hai nhân duyên làm pháp quán căn bản. Ứng dụng quán chiếu cho đúng sẽ chứng được Duyên giác thừa, còn gọi là Bích-chi Phật. Vị này do tu hành được giác ngộ nhưng chỉ mới xong trên phần tự lợi thôi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai muốn tu hạnh Bồ-tát cứu giúp mọi người, thương yêu muôn loài, Phật dạy tu pháp Lục độ: bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Thành tựu sáu pháp này một cách rốt ráo là hàng Đại Bồ-tát, thực hành hạnh tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong năm cỗ xe đó, Phật không bắt chúng ta phải đi cỗ này, không được đi cỗ kia. Tùy chúng ta lựa chọn. Trong mấy cỗ xe này, quí vị chọn cỗ nào? Chắc xe số một. Phật tử thường thích làm sao đời này tốt đẹp, đời sau sanh ra được tốt đẹp hơn nữa. Bao nhiêu đó đủ rồi, không dám mong gì cao hơn. Như vậy cũng tốt. Muốn thế quí vị phải giữ năm giới: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu hay hút á phiện, xì ke, ma túy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong năm giới này, nếu người không sát sanh thì đời này khỏi tù tội, đời sau sanh ra được sống lâu ít bệnh hoạn. Người không trộm cướp, đời này khỏi sợ tù tội đời sau sanh ra lại có của cải giàu sang, không ai cướp giật được. Người không tà dâm đời này gia đình đầm ấm vui tươi hạnh phúc, đời sau sanh ra đoan chánh trang nghiêm. Người không nói dối đời này được mọi người tin quí, đời sau sanh ra nói năng lưu loát ai cũng kính tin. Người không uống rượu, hút á phiện, xì ke, ma túy, đời này không khổ đời sau sanh ra trí tuệ sáng suốt, tinh thần minh mẫn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong năm điều tốt đẹp ở mai sau này, quí vị có muốn thiếu cái nào không? Chắc là không. Có ai muốn chết yểu không? - Không. Có ai muốn nghèo khổ không? - Không. Có ai muốn xấu xí không? - Không. Có ai muốn nói ngọng nói lịu, nói ra chẳng ai nghe không? - Không. Có ai muốn ngu tối đần độn không? - Không. Như vậy cả năm giới là điều kiện đầy đủ tốt đẹp cho cuộc sống hiện tại và cả mai sau. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm giới này giữ dễ hay khó? Thật tình không khó, nhưng người thế gian ít ai giữ đủ. Đây là điều đáng buồn. Chúng ta thấy thế gian, người có tật này người có tật kia, đó là vì giữ không tròn năm giới. Thiếu một giới nào thì trở lại làm người sẽ bị khuyết tật thuộc về giới đó, không được toàn vẹn. Muốn bảo đảm đời này, đời sau được an lành thì chúng ta phải giữ trọn vẹn năm giới. Đó là quyền của mình, chớ đâu có ai đặt định cho ta. Đức Phật đã chỉ quá rõ, tùy chúng ta chọn lựa thôi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy đạo Phật có tôn trọng tự do không? - Rất tôn trọng. Phật không can thiệp vào cuộc đời của ai cả, Ngài chỉ nói cho chúng ta biết thôi. Đó là bổn phận của người hướng đạo chân thật, ngay thẳng. Đạo Phật không bao giờ áp đặt điều gì cho bất cứ một ai hết. Thế Tôn chỉ vạch ra, tùy chúng sanh chọn lựa lấy. Nếu ta không khéo, chọn cái xấu thì cam tâm chịu, chớ đừng trách Phật, trách trời, trách số mạng gì hết. Đó là bước tự do thứ hai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến tự do thứ ba. Phần này thuộc về nội tâm của chúng ta. Tôi xin hỏi tất cả quí Phật tử đối với tham sân si, quí vị thấy nó tốt hay xấu? Ba thứ này là ba thứ xấu, Phật gọi là tam độc. Đã là ba thứ độc mà còn chứa chấp nó thì vô lý quá. Hơn nữa khi chứa chấp nuôi dưỡng nó, ta phải chịu nhiều đau khổ. Vậy tại sao không đuổi nó ra gấp, chứa chấp làm gì? Đó là quí vị tự muốn khổ thôi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi vậy đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo: Trong nhà của các ông có ba con rắn độc đang ở, vậy các ông ngủ có ngon không? - Ngủ không ngon. Nằm hồi hộp không biết lúc nào nó cắn mình. Bây giờ muốn ngủ ngon phải làm sao? - Phải thức dậy đuổi ba con rắn ấy chạy ra ngoài. Cũng vậy, chúng ta biết ba thứ độc tham, sân, si còn ở trong tâm thì mình luôn bị hiểm nguy không thể lường trước được. Đã biết thế chúng ta phải gấp rút tống cổ nó ra ngoài, không chút tiếc nuối. Đằng này ngược lại mình không nỡ tống cổ nó. Muốn thì muốn sướng mà chứa thì chứa khổ. Có mâu thuẫn chưa? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quí Phật tử thấy như con rắn sân nằm ở trong tâm mình, tai nạn xảy đến khó lường trước được. Đang đi đường bình yên, ai lỡ đụng mình một cái nổi sân lên chửi mắng người ta, người kia bị mắng cũng nổi sân mắng lại. Mắng chửi một hồi cơn sân càng bốc cháy dữ dội, thế là nhào vô đánh lộn, cấu xé… dẫn tới thương tích hay tù tội. Đó, con rắn sân ở trong nhà thì tai nạn không thể lường trước được. Rắn tham, rắn si cũng vậy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho nên người tu Phật phải sạch hết ba thứ độc. Nếu chưa sạch nổi ít nhất cũng phải giảm bớt. Lưu ý quí vị xuất gia cũng còn bị ba con rắn này lẻn bò vào nhà, đừng nói chi đến Phật tử. Cho nên tất cả đều phải cẩn thận dè dặt trông chừng, ngăn đón, ruồng đuổi nó. Chúng ta tự do xây dựng một cuộc đời hạnh phúc cho mình, cũng tự do tạo một kiếp sống khổ đau cho mình. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật ra chúng ta tự do với bên ngoài dễ, nhưng tự do với nội tâm rất khó. Như ta đâu muốn nóng giận, đâu muốn nói bậy, cũng không muốn làm việc xấu, nhưng khi nổi giận lên rồi thì bắt nói bậy, bắt làm xấu. Chú sân bắt sao ta làm vậy, không cưỡng lại nổi. Lúc đó tự mình cũng thấy bực bội, rõ ràng là mất tự do quá rồi. Cho nên Phật dạy phải đuổi cho được rắn tham, rắn sân, rắn si ra thì mình mới tự do, mới an vui. Còn chứa nó là còn đau khổ, còn mất tự do. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta luôn đòi tự do mà gốc tự do thì không biết. Giận cứ để giận, buồn cứ để buồn, đôi khi còn bảo vệ nó nữa. Đang nổi giận, ai nhắc “sao anh hay giận quá”, liền bào chữa “tánh tôi vậy đó”. Đã nghĩ “tánh tôi” thì còn đuổi gì được nữa, bởi cho giận là cái tự nhiên của tôi rồi, không thể sửa được. Nhưng giận có phải tánh tự nhiên của mình không? Nếu người bằng hoặc thấp hơn mình, làm điều gì trái ý ta liền nổi sân, nhưng với người lớn hơn, có quyền thế hơn, họ làm trái ý mình, ta dám vỗ bàn hét với họ không? Rõ ràng đâu phải tánh, mà là coi mặt nổi sân. Chẳng qua do sự cố chấp mà sanh ra các thứ tham sân, phiền não thôi. Nếu chúng ta khéo tu, khéo chuyển đổi nó sẽ giảm, chớ đừng nói tánh. Nói tánh là hết tu. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nơi tâm mình có tham, có sân, có si chúng ta biết rõ để hạn chế chúng. Từ một trăm phần trăm, tu một năm còn chín mươi phần trăm, tu hai năm còn tám mươi phần trăm, sau đó mười năm hai mươi năm, nó giảm xuống lần lần đến ngó thấy, đó là chúng ta tu tiến. Ngược lại nếu người hồi chưa tu tham sân si một trăm phần trăm, tu được mười năm lên một trăm hai mươi phần trăm, đó là tu xuống địa ngục chớ không phải tu lên Cực Lạc hay nhập Niết-bàn. Cho nên nói tới tu là nói tới sự chuyển biến. Chuyển biến bằng cách bỏ bớt những tập khí xấu, những khổ đau để được an vui. Đừng nghĩ tụng kinh niệm Phật nhiều là tu, trong khi thói xấu không chừa, thì Phật khó rước về Cực Lạc lắm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho nên người thật tu phải biết gốc đừng theo ngọn. Gốc là nhân, ngọn là quả. Gốc xấu ác phải ngừa, phải tránh, phải bỏ thì quả an lạc sẽ đến với mình. Cực lạc là vui tột, mà muốn được vui tột thì tất cả nhân khổ đau phải dẹp hết mới được. Chúng ta càng tu càng cố gắng vượt ra những nhân xấu xa, những nhân đau khổ mới gọi là người biết tu, thật tu. Nếu không như vậy chưa thể gọi là người biết tu, thật tu. Tu là cốt dẹp tham sân si mà ta còn bảo vệ nó, có phải giả dối không? Bởi vậy người thật tu phải nhìn cho sâu, thấy cho kỹ để không bị lầm lẫn vì sự tự dối của chính mình. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một khi tham sân si chứa chấp trong lòng nhiều quá chúng ta không có tự do. Bây giờ muốn tự do thì phải loại nó ra. Tự do đó mới là thứ thật. Còn đòi tự do ở ngoài không phải thật. Được cái này đòi cái kia, đòi hoài không biết đâu là cùng, trong khi chính mình đang mất tự do vì tham sân si chi phối, mà không đòi lại sự tự do cho mình. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong nhà Phật có pháp Mười hai nhân duyên. Nhân duyên đầu là vô minh. Từ vô minh có hành, hành tức có nghiệp, rồi nghiệp dẫn thức đi thọ sanh v.v... Như vậy gốc trầm luân sanh tử là vô minh. Nhưng vô minh là gì? Có nhiều lối giải thích khác nhau. Trong các kinh A-hàm, Phật dạy không biết Tứ đế như thật là vô minh. Rồi còn chỗ khác Phật giải cái gì là vô minh. Trong kinh Viên Giác Phật giải thích vô minh, tôi thấy rất thấm thía. Có một vị Bồ-tát hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh?” Đức Phật trả lời: “Thấy thân này thật, tâm suy nghĩ thật là vô minh.” Đơn giản làm sao! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta nhìn lại mình có vô minh không? Trăm người như một, đều có hết phải không? Ai cũng thấy thân này thật, những suy nghĩ là tâm mình thật. Chấp thân thật, chấp tâm suy nghĩ thật, đó là vô minh. Tại sao? Bởi vì nếu thân này thật mình thì ta phải có quyền điều khiển toàn bộ, vì nó là mình. Nhưng trên thực tế ta có quyền điều khiển nó không? Biết bao thứ mình không muốn xảy ra mà nó cứ xảy ra, mình không muốn bệnh hoạn mà nó cứ bệnh hoạn. Rõ ràng ta không có quyền làm chủ nó. Đó là điểm thứ nhất. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điểm thứ hai, Phật dạy thân này do tứ đại hòa hợp thành. Chất cứng trong người là đất, chất ướt là nước, chất động là gió, chất ấm là lửa. Bốn thứ này là bốn thứ vật chất căn bản để tạo thành thân người. Đất nước gió lửa là tri giác hay vô tri? - Nó là vô tri. Bốn thứ vô tri hợp lại thành thân mình, chẳng lẽ mình là vô tri? Thế nên nói thân này là mình không được. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói vô tri không phải mình, sẽ có người bảo vậy cái suy nghĩ hữu tri đó là mình rồi. Hiểu như thế không đúng. Những nghĩ suy tính toán tuy có tri giác, nhưng nó đủ thứ. Khi ta nghĩ hiền lành như Phật, Bồ-tát; nhưng cũng có khi ta nghĩ dữ ác như cọp sói. Nếu nghĩ hiền lành là mình thì không có nghĩ dữ ác. Nếu nghĩ dữ ác là mình thì không có nghĩ hiền lành. Thế thì mình là cái nào? Nếu cái nào cũng mình hết thì nhiều thứ quá, chẳng lẽ mình tạp nhạp như thế? Đó là một ý nghĩa thứ nhất. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ý nghĩa thứ hai, khi quí vị đang khởi tính toán gì đó, bất thần nhìn lại xem cái tính toán ấy từ đâu ra? Nó liền mất tiêu tìm không thấy. Như vậy nó chợt có chợt không, chợt sanh chợt diệt, làm sao thật mình được? Chúng ta từ lúc cha mẹ sanh cho tới trăm tuổi, mình là mình. Không phải khi có khi không. Nếu nghĩ suy đó là thật mình thì nó phải hằng hữu, phút giây nào cũng thường có. Đằng này nó khi có khi không, làm sao thật mình được? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thân tứ đại vô tri mà nói là mình đó là vô minh. Tâm suy nghĩ lăng xăng chợt có chợt không, đủ thứ tốt xấu phải quấy, nói là mình cũng vô minh. Do lầm chấp ta như thế nên lúc nào cũng muốn ta hơn, muốn ta được khen, muốn ta là quí v.v... Từ đó bao nhiêu thứ tham lam phát sanh. Tham được thì vui, tham không được liền nổi sân lên. Nói tham sân si, nhưng thật ra si là gốc rồi mới tới tham, sân. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi thế Phật dạy phải lấy trí tuệ sáng suốt diệt trừ vô minh. Muốn vô minh hết chúng ta phải sáng, phải giác ngộ. Muốn được sáng, được giác ngộ, ta phải hằng dùng trí tuệ quán sát, chiếu soi xem cái gì thật là mình. Tìm cho ra cái thật đó mới hết vô minh. Nếu chưa tìm ra được mà ôm ấp thân này, tâm suy nghĩ lăng xăng này cho là mình thật thì còn vô minh mãi mãi. Vô minh còn thì không bao giờ thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử. Đó là mất tự do. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ muốn tự do phải thoát khỏi vòng luân hồi. Muốn thoát khỏi luân hồi phải dùng minh để phá vô minh, tức là dùng sáng để trừ tối. Như ban đêm không đèn, trong nhà có bàn ghế đủ thứ hết, nếu chúng ta đi tới đi lui trong đó thì sẽ va vấp, đụng cái này cái kia, té ngã liên miên. Tại sao vấp té? - Vì không thấy đường. Bây giờ muốn cho khỏi vấp, khỏi té thì mở đèn lên. Rất là đơn giản. Cũng thế, muốn hết khổ trong đêm tối vô minh, luân hồi, chúng ta phải dùng đèn trí tuệ, giác ngộ để trừ nó. Đó là trọng tâm, là chủ yếu của đạo Phật. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người tu theo Phật mà không thấy được lẽ thật đó thì suốt kiếp vẫn trầm luân sanh tử. Chỉ khi nào tỉnh sáng, giác ngộ ta mới tự do tự tại đi lại trong vòng trầm luân sanh tử ấy, không còn bị nó lôi kéo nữa. Tự do tự tại trong sanh tử gọi là giải thoát sanh tử. Giải thoát đó là quả do tu diệt nhân tham sân si. Thế nên muốn được quả tự do cùng tột cứu kính, chúng ta phải cố gắng dẹp bỏ những nhân làm cho mình mờ mịt u tối, bằng không chúng ta cứ quẩn quanh trong đêm dài sanh tử. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người tu Phật là người rất chuộng tự do, rất mong muốn tự do. Sự tự do ấy đòi hỏi ở chính mình, phải chận đứng những nhân làm mất tự do. Tu Phật là như vậy. Quí Phật tử ít chịu thấy lẽ thật lắm. Thân mình đã không thật mà cứ nghĩ đẹp quí, sống dai nên ai nói xấu mình nổi giận liền. Vì chấp thân nên bao nhiêu thứ phiền não vây quanh. Trên thế gian này có ai được mọi việc như ý đâu, nên ai cũng bị chê, bị trách. Rồi ai cũng bị bệnh, bị già, bị chết nên ai cũng khổ hết. Bây giờ muốn được vui thì phải dẹp hết nhân khổ ấy đi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đạo Phật nói khổ không có nghĩa là để mình chịu khổ, mà nói khổ để mình được vui. Ai cũng khao khát tự do, nhưng sự tự do đó phải quay lại mình mà tìm, đừng trông cậy bên ngoài. Cầu xin trông cậy bên ngoài là lệ thuộc, chớ không phải tự do. Giả sử Phật nói “ta có thể ban ơn xuống họa cho các ngươi”, rồi chúng ta cứ cầu Phật, ngày nào cũng hướng về Ngài van xin đủ điều. Rõ ràng như thế là lệ thuộc, là mất tự do. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi biết khổ vui, tất cả đều gốc ở mình thì ta dẹp nhân khổ, tạo nhân vui. Đó là tự do, hoàn toàn tự do không lệ thuộc vào ai cả. Bởi vậy tôi hay nói người tu dù là tu thiền mà cứ trông ơn trên giúp mình, đó là đòi mất tự do. Vì lệ thuộc ở đâu cũng mất tự do hết. Tu như vậy là đúng với đạo Phật không? - Không đúng. Cho nên hiểu được ý nghĩa này, quí vị có thể đoán định được cái gì tà, cái gì chánh. Chánh là lẽ thật, tà là không có lẽ thật. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ chúng ta khẳng định, là đệ tử Phật thì phải tu sao cho được tự do, được giải thoát. Đó là con đường mình phải đi. Phật tử can đảm hứa chắc như vậy mới thật là Phật tử. Mong tất cả xứng đáng là những người con của Phật, của đấng giác ngộ, đời đời không còn si mê nữa.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-4378218899761830939?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/4378218899761830939/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=4378218899761830939&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/4378218899761830939'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/4378218899761830939'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/10/tinh-thn-t-do-trong-o-pht.html' title='Tinh thần tự do trong đạo Phật'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-8591320912666939091</id><published>2007-10-19T00:13:00.000+08:00</published><updated>2007-10-19T00:13:03.562+08:00</updated><title type='text'>Chữ Tâm qua lời dạy của chư tổ.</title><content type='html'>(Thầy Thích Chân Tuệ - Canada giảng)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1) Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng có dạy:&lt;br /&gt;"Tâm thông thì thuyết thông".&lt;br /&gt; Hành giả nào thực tâm tu học, không phân biệt tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, tâm trí thông suốt, đạt được đến đâu, thuyết giảng thông suốt, đến mức độ đó, lợi ích chúng sanh.  Ví như trước có học hành nghiêm túc, chân tu thực học, sau đó mới có thể làm thầy chỉ dạy người khác.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;2) Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy: "Tâm địa nhược không, tuệ nhựt tự chiếu".&lt;br /&gt; Nghĩa là: Khi tâm địa, hay tâm thức, hoàn toàn trống rỗng, lặng lẽ, lẵng lặng, thanh tịnh, không còn chứa chấp những vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm nào cả, thì trí tuệ bát nhã tự bừng sáng.  Cũng như mây đen tan biến hết, tức là phiền não không còn nữa, tâm thức không tịch, thì mặt trời trí tuệ tự chiếu sáng.  Tâm được thanh tịnh thì cảnh vật cũng thanh tịnh, chúng sanh chung quanh cũng được bình yên.&lt;br /&gt;Một căn phòng tăm tối ngàn đời, nhưng chỉ cần bật điện một cái, hay đem vào một ngọn đèn, thì liền sáng tỏ ngay, đâu cần đợi ngàn năm sau nữa, mới chịu sáng lại.  Cũng vậy, khi con người chịu mồi ngọn đuốc trí tuệ của mình với ngọn đuốc chánh pháp của chư Phật, chư Tổ, thì ngọn đuốc trí tuệ của mình cũng bừng sáng lên ngay.  Giây phút bừng sáng đó, trong thiền tông, gọi là: ngộ đạo, nhập đạo, vào đạo. &lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;3) Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy: "Tâm cảnh không dính nhau là giải thoát".&lt;br /&gt; Nghĩa là: Chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trần đời, trong kinh điển gọi là: kiến văn giác tri, nếu tâm không dính mắc, thì không phiền não.  Không phiền não tức là giải thoát.  Thật là hết sức đơn giản!  Lý lẽ tuy cao siêu vi diệu, nhưng hết sức thực tế.  Bất cứ ai cũng có thể làm được, không cần phải thờ lạy, cúng kiến, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, nghề nghiệp, xuất xứ, học thức, nam nữ, già trẻ, bé lớn, giàu nghèo, sang hèn.  Tâm không phan duyên chạy theo cảnh trần là: giải thoát!&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt; 4) Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông có dạy:&lt;br /&gt;"Đối cảnh vô tâm, mạc vấn thiền".&lt;br /&gt;Nghĩa là: Khi nào đối trước cảnh trần, tâm không còn dính mắc, không khởi bất cứ tâm niệm gì, trong kinh sách gọi là: vô tâm vô niệm, tức là không còn khởi tâm tham sân si, thản nhiên trước sự thịnh suy, thăng trầm của đời sống, bình thản trước những lời khen tiếng chê, vượt qua được sóng gió của cuộc đời, tức nhiên tâm sẽ được khinh an, tự tại, đó là: thiền định niết bàn.&lt;br /&gt;Con người sống trên đời, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, thường xuyên tiếp xúc với các cảnh trần: hình ảnh, âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm và ký ức.  Khi con người tiếp xúc với các trần cảnh, mà bị dính mắc, tức là: trong tâm khởi niệm thương hay ghét, khen hay chê, ưa thích hay tức giận, đều gọi là: loạn tâm vọng tâm.  Không khởi bất cứ tâm niệm nào cả, gọi là: định tâm, hay: tâm thiền định.  Đây chính là cốt tủy, là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;5) Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất có dạy:&lt;br /&gt;"Tức Tâm thị Phật" hay "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghĩa là: Tâm của chúng ta chính là Phật, Phật chính là tâm của chúng ta.  Khi chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ bất thiện, lợi mình hại người, tức là tam nghiệp không thanh tịnh, tâm Phật ẩn mất.  Khi chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ hiền thiện, lợi mình lợi người, tức là tam nghiệp thanh tịnh, tâm Phật hiển hiện. Thực là đơn giản!&lt;br /&gt;Vì không chịu học hiểu giáo lý, biết bao nhiêu người gọi là Phật Tử, tại gia hay xuất gia, tin theo đạo Phật, không khác gì ngoại đạo.  Ngoại đạo nghĩa là: tuy vẫn thờ tượng Phật, tại gia hay là tại chùa, nhưng vẫn thường ngày ngoài tâm cầu đạo, chỉ biết lo chuyện cúng kiến lễ nghi, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, cầu khẩn van xin, cầu nguyện khấn vái, đủ thứ mọi điều, nhưng không hiểu không biết Phật ở nơi đâu?&lt;br /&gt;Ngoài tâm không có Phật, cầu Phật ngoài tâm, là nghĩa lý gì?  Phật không ở trong chùa, không ở trong các pho tượng, bằng vàng hay bạc, bằng đồng hay cây.  Phật không ở trên mây, trên non hay trên núi.  Phật không ở dưới suối, dưới sông hay dưới biển.  Chúng ta không cần phải đi đến xứ Ấn Độ xa xôi, hay bất cứ nơi đâu, mới thấy được Phật. Phật đang ở ngay trong tâm của chúng ta&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-8591320912666939091?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/8591320912666939091/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=8591320912666939091&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/8591320912666939091'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/8591320912666939091'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/10/ch-tm-qua-li-dy-ca-ch-t.html' title='Chữ Tâm qua lời dạy của chư tổ.'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-7733460819596564980</id><published>2007-10-19T00:10:00.001+08:00</published><updated>2007-10-19T00:10:35.570+08:00</updated><title type='text'>Chữ Tâm trong đạo Phật</title><content type='html'>(Thầy Thích Chân Tuệ - Canada giảng)&lt;br /&gt;1) Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:  "Nhứt thiết duy tâm tạo".&lt;br /&gt; Nghĩa là: Mọi sự mọi việc đều do tâm tạo ra tất cả.  Công đức cũng do tâm tạo, nghiệp chướng cũng bởi tại tâm.  Đó chính là tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi luôn luôn, thường do tham sân si chi phối, thúc đẩy, điều khiển, cho nên con người thường tạo nghiệp bất thiện nhiều hơn là nghiệp thiện. Chúng ta đã thấu hiểu lý lẽ chân thật của cuộc đời là: vô thường, không có gì tồn tại vĩnh viễn, không có gì là tự nhiên sanh mà không có nguyên nhân.  Luật nhân quả áp dụng trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai.  Sanh sự thì sự sanh.  Nhân nào thì quả nấy.  Gieo gió thì gặt bão.  Có lửa thì có khói.  Cầu nguyện với tâm lăng xăng lộn xộn, chỉ đem lại sự bình an tâm trí tạm thời. Bình an thực sự chỉ có cho người thiện tâm. Thiên đàng, địa ngục, tuy là hai tâm trạng khác nhau, nhưng thực sự, tất cả chỉ là các trạng thái ở trong tâm của chúng ta mà thôi.&lt;br /&gt;Bởi vậy cho nên, có bài kệ như sau:&lt;br /&gt; Tội tùng tâm khởi tương tâm sám    &lt;br /&gt;Tâm nhược diệt thời tội diệc vong   &lt;br /&gt;Tội vong tâm diệt lưỡng câu không &lt;br /&gt;Thị tắc danh vi giai sám hối.             &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;dịch là:&lt;br /&gt;Tội từ tâm khởi đem tâm sám&lt;br /&gt;Tâm đã diệt rồi tội cũng vong&lt;br /&gt;Tội vong tâm diệt cả hai không&lt;br /&gt;Đó chính thực là chân sám hối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghĩa là: Tất cả những tội lỗi gây ra, đều do tâm chúng ta chủ động, thì phải thành tâm mà sám hối, tự trong thâm tâm.  Từ đó, chúng ta phát nguyện không tái phạm, cho nên mỗi khi tâm tham, tâm sân, tâm si khởi lên, chúng ta liền biết ngay, dừng lại, không làm theo sự điều khiển, sai khiến của tham sân si, thì tội lỗi sẽ không còn tái phạm nữa.  Khi tội lỗi không còn, tâm sanh diệt cũng lặng mất, con người sống trong trạng thái tịch tịnh, bình yên của tâm trí.  Đó mới thực là sự sám hối chân chánh. &lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt; 2) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Tùy tâm biến hiện".&lt;br /&gt; Nghĩa là: Mọi sự mọi việc trên thế gian này như thế nào, tốt hay xấu, lành hay dữ, đúng hay sai, phải hay quấy, được hay không, đều do vọng tâm của chúng ta biến hiện ra cả.  Sự cảm thọ tùy theo tâm trạng, tùy theo cá nhân, không ai giống ai, không lúc nào giống với lúc nào, không thời nào giống với thời nào, không nơi nào giống với nơi nào.&lt;br /&gt; Trong sách có câu:&lt;br /&gt;"Tâm buồn cảnh được vui sao"&lt;br /&gt;"Tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an".&lt;br /&gt; Nghĩa là: Cùng một cảnh vật như vậy, nếu có tâm sự buồn phiền áo não, chúng ta không thấy cảnh vui chút nào. Còn nếu chúng ta có tâm trạng hân hoan vui vẻ, dù cây khô trụi lá, cảnh vẫn đẹp vui như thường. Cái tâm hân hoan vui vẻ là chúng ta, hay cái tâm buồn thảm lê thê là chúng ta?  Cùng một câu nói như vậy, nếu tâm an ổn, vui vẻ mát mẻ, chúng ta cũng cho là: nói đúng nói phải, nói sao cũng được, nói ngược cũng xong. Trái lại, tâm đang bực bội, ai nói câu nào, chúng ta cũng cho là: nói sai nói bậy, nói xiên nói xỏ, nói bóng nói gió, nói hành nói tỏi, nói quấy nói quá. &lt;br /&gt;Vậy, hãy thử nghĩ xem, chúng ta là người: có tâm thực tốt, hay tâm không tốt?  Cái tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi bất thường như vậy, thực không phải là chúng ta. &lt;br /&gt;* **&lt;br /&gt;3) Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Tam giới tâm tận, tức thị niết bàn". &lt;br /&gt; Nghĩa là: Khi nào dứt sạch tâm trong ba cõi, lúc đó chúng ta mới thấy được niết bàn.  Ba cõi, còn gọi là tam giới, đó là: dục giới, sắc giới và vô sắc giới.  Khi tâm tham nổi lên, chúng ta sống trong dục giới, tức là cảnh giới đắm nhiễm tham dục, cảm thấy đau khổ triền miên vì lòng tham của con người không đáy, không bao giờ thỏa mãn được.  Con người sống trong dục giới lúc nào cũng cảm thấy khao khát, thiếu thốn, được bao nhiêu cũng không thấy đủ, cho nên luôn luôn chạy đôn chạy đáo, tìm kiếm ngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ.  Khi tâm sân nổi lên, ngay lúc đó, chúng ta sống trong sắc giới, tức là cảnh giới chấp chặt sắc tướng, lòng như thiêu đốt, sắc mặt tái xanh, vì sự tức giận, vì sự bất mãn.  Dù tâm tham không còn, tâm sân cũng tai hại vô cùng.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;4) Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai".  &lt;br /&gt;Nghĩa là: Một khi tâm niệm tức giận, sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc phục, thì biết bao nhiêu, trăm ngàn vạn chuyện khó khăn, đau khổ, chướng ngại tiếp nối theo sau đó.  Khi tâm si nổi lên, chúng ta sống trong vô sắc giới, tức là cảnh giới vô minh, rất dễ lầm đường lạc nẽo, mê tín dị đoan, rất dễ dàng tạo tội tạo nghiệp bằng cách: hãm hại trả thù, lập mưu tính kế, vu khống cáo gian, thưa gửi kiện tụng, không cần biết hậu quả khổ đau đối với các người khác và gia đình họ.  Những giây phút ngu si, lầm lẫn thường là nguyên nhân của những sự hối tiếc, đau khổ sau đó, cho mình và cho người khác, có khi kéo dài triền miên suốt cả cuộc đời.&lt;br /&gt;            Bởi vậy cho nên, phải dẹp trừ tận gốc các tâm tham sân si, trong kinh sách gọi đó là: tam độc, chúng ta thoát ly tam giới gia, cuộc sống mới an lạc và hạnh phúc.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;5) Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Người nào giữ được nhứt tâm bất loạn, trong một ngày cho đến bảy ngày, khi lâm chung giữ tâm không điên đảo, thì người đó được vãng sanh tây phương".&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;6) Trong Kinh Đại Tập, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Nếu thường xuyên giữ được chánh niệm, tâm không loạn động,&lt;br /&gt;dứt trừ được phiền não, thì chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề".&lt;br /&gt; Nghĩa là: Người tu tập phải luôn luôn quán sát tâm chính mình, luôn luôn giữ gìn chánh niệm, luôn luôn niệm Phật, khi vọng tâm vọng tưởng vọng thức vọng niệm khởi lên, liền biết, không theo.  Nhờ đó tâm được an nhiên tự tại, không loạn động, dứt trừ được phiền não, gọi là: nhứt tâm bất loạn.  Nhờ công phu tu tập đó, chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề.  Khi lâm chung giữ được tâm không điên đảo, cho nên được vãng sanh cảnh giới tịnh độ.  Muốn làm được điều này, muốn giữ được tâm trí nhứt như không loạn động, con người phải thấu hiểu và thực hành quán tứ niệm xứ, gồm có: thân, thọ, tâm, pháp. &lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt; 7) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Căn bản của sanh tử luân hồi là: Vọng tâm".&lt;br /&gt;"Căn bản của bồ đề niết bàn là: Chân tâm". &lt;br /&gt; Nghĩa là: Chúng sanh sở dĩ bị trầm luân sanh tử, bởi vì suốt ngày này qua ngày nọ, luôn luôn sống với vọng tâm, tức là tâm lăng xăn lộn xộn, luôn luôn thay đổi, khi vui khi buồn, khi thương khi ghét, khi khen khi chê, khi tán thán khi phê phán.  Muốn tâm trí sáng suốt thanh tịnh, an nhiên tự tại, chúng ta cần quán sát tâm chính mình: Khi các vọng tâm nổi lên, chúng ta liền biết, không theo, như vậy vọng tâm lắng xuống, diệt mất, chân tâm hiện ra rõ ràng. &lt;br /&gt;Muốn làm được điều này, muốn chân tâm hiển hiện, chúng ta cần phải thấu hiểu và tu tập bốn tâm rộng lớn, trong kinh sách gọi là tứ vô lượng tâm, đó chính là: từ, bi, hỷ, xả.  Khi có tâm từ và tâm bi, chúng ta sẽ dễ cảm thông với muôn loài, nhứt là với loài người, với những người chung quanh, gần như cha mẹ, vợ chồng, con cháu, xa hơn như bà con, láng giềng, bạn bè.  Do đó tâm giận tức, tâm sân hận có thể giảm bớt, nhẹ bớt đi.  Khi có tâm hỷ và tâm xả, chúng ta sẽ bớt được các tâm ganh tị, tâm đố kỵ, tâm hơn thua, tâm cố chấp.  Cho đến khi nào tứ vô lượng tâm tròn đầy, vọng tâm tan biến, tâm ý trở nên an nhiên tự tại, chân tâm hiển hiện. &lt;br /&gt;Đây mới chính là ý nghĩa thiết yếu của việc tu tâm dưỡng tánh theo đạo Phật:&lt;br /&gt;Trong tâm khởi niệm, nếu giác kịp thời, liền biết không theo, đó là: chân tâm.&lt;br /&gt;Trong tâm khởi niệm, nếu còn mê muội, không giác kịp thời, liền theo niệm đó, trở thành: vọng tâm.&lt;br /&gt;Cũng ví như là:&lt;br /&gt;Khi có gió thổi, mặt biển nổi sóng, gọi là biển động, ví như tâm lăng xăng lộn xộn.&lt;br /&gt;Mặc dù có gió thổi, mặt biển vẫn bình yên, đó là biển thái bình, ví như bản tâm thanh tịnh, hay tâm bình thường.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;8) Trong Kinh Tịnh Danh, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Mặt trời mặt trăng vẫn thường sáng tỏ, tại sao người mù lại chẳng thấy? &lt;br /&gt;Cũng vậy, bởi vì nghiệp thức che đậy, chúng sanh thường biết mà cố phạm, cho nên chẳng thấy thế giới Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chẳng nhận ra bản tâm thanh tịnh thường hằng".&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt; 9) Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Tất cả chúng sinh đều có bản tâm thanh tịnh".&lt;br /&gt;"Chúng sinh chẳng nhận thấy được, vì bị vô minh che lấp".&lt;br /&gt; Nghĩa là: Con người ai ai cũng có bản tâm thanh tịnh, cũng như mặt trời mặt trăng luôn luôn sáng tỏ.  Chỉ vì tâm tham lam của cải tiền bạc, hoặc vì tâm sân hận tự ái cao độ, hoặc vì tâm si mê cố chấp, ví như mây đen che lấp mặt trời mặt trăng, cho nên con người mới tạo tội tạo nghiệp, làm cho tâm trí loạn động, thường xuyên bất an, điên đảo loạn cuồng, để rồi trôi lăn vào vòng sanh tử luân hồi, đã muôn kiếp trước, và sẽ tiếp tục trôi lăn, muôn kiếp về sau, nếu như không chịu dừng nghiệp và chuyển nghiệp. Với số tiền nho nhỏ, quyền lợi không đáng kể, con người còn có thể tỉnh thức, dừng được nghiệp, dẹp tâm tham, không thưa kiện người khác, không gây não loạn cho người, và gia đình của họ.  Nhưng khi kiện thưa đòi tiền bồi thường vài triệu đô la, con người thành ma, tối tăm mặt mũi, liều mạng đưa chân, hết biết lẽ phải, nhắm mắt làm càng, tới đâu cũng được. Mãnh lực của đồng đô la quả thực là vạn năng, thượng đế chẳng bằng, đã lôi kéo không biết bao nhiêu chúng sanh u mê, vào vòng tội nghiệp, từ xưa đến nay!  Chính vì biết mà cố phạm, nghiệp thức che đậy, vô minh che lấp, con người chẳng thấy được thế giới Như Lai trang nghiêm, bản tâm thanh tịnh. Chúng ta là người tỉnh thức, đang tu học chánh pháp, đang muốn trở về nguồn cội, đang muốn chuyển hóa cuộc đời của mình, đang muốn thoát ly sanh tử luân hồi, càng phải nên hết sức cẩn trọng, cẩn trọng và cẩn trọng!&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;10) Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Quá khứ tâm bất khả đắc. Hiện tại tâm bất khả đắc. Vị lai tâm bất khả đắc". &lt;br /&gt; Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nhớ nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chứ chẳng ích lợi gì.  Muốn làm được điều này, ở trong gia đình hay ngoài xã hội, chúng ta cần phải có tâm vị tha, độ lượng, biết tha thứ, biết cảm thông, nói chung là tâm từ bi.  Chuyện hiện tại rồi cũng qua mau, cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng chẳng ích lợi gì.  Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư, sầu muộn cũng chẳng ích lợi gì.  Chi bằng chúng ta giữ gìn tâm trí được như như, bình tĩnh, thản nhiên, có phải khỏe hơn không?  Chuyện gì phải tới nó sẽ tới, lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu.  Đó chính là nghiệp quả, nghiệp báo, còn gọi là: quả báo.  Hiểu sâu được luật nhân quả, chúng ta sẽ bình tĩnh thản nhiên chấp nhận quả báo xảy đến.  Nếu không muốn có quả báo xấu, chúng ta phải chấm dứt gây nghiệp nhân xấu, tức là chấm dứt tâm tham sân si, tức là dừng ba nghiệp thân khẩu ý bất thiện.  Trong kinh sách gọi là: dừng nghiệp và chuyển nghiệp.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;11) Trong Kinh Tịnh Danh và Kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Tâm tịnh thì độ tịnh. Tâm địa bình thì thế giới bình".&lt;br /&gt; Nghĩa là: Khi những vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm đã dứt sạch, người tu tập không còn tham, không còn sân, không còn si.  Đến đây, người tu tập đạt được cảnh giới bất nhị, tức là không còn kẹt hai bên, không còn thị phi, không còn phải quấy, không còn tranh chấp, không còn hơn thua, không còn tạo tội, không còn tạo nghiệp, không còn cố chấp.  Trong kinh sách gọi đó là cảnh giới: vô tâm vô niệm, hay là cảnh giới: nhứt tâm bất loạn.  Lúc đó, tâm tịnh, tâm địa bình, tâm vô quái ngại, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, tức là tâm an nhiên tự tại, không còn điều gì có thể ngăn ngại được, gây lo sợ khủng khiếp được.  Do đó, chúng ta xa rời những thứ điên đảo, lìa bỏ được mộng tuởng, đạt được cứu kính niết bàn.  Mọi người chung quanh cảm thấy an ổn, yên tâm, khi sống gần người tu tập có tâm tịnh, tâm địa bình.  Thế giới chung quanh thanh bình, quốc độ an ninh, chính là nghĩa như vậy.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt; 12) Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Thắng vạn quân không bằng tự thắng mình".&lt;br /&gt;"Tự thắng tâm mình là điều cao quí nhứt".  &lt;br /&gt;Thắng được vạn quân, con người tóm thu được quyền lực, danh vọng, tiền tài, của cải vật chất, đủ mọi thứ trên trần đời.  Nhưng tâm người đó vẫn sống trong tam giới: dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, cho nên vẫn còn phiền não khổ đau, vẫn còn sanh tử luân hồi.  Muốn  xuất được tam giới gia, chúng ta phải luôn luôn quán sát tâm chính mình: Khi nào tâm tham, tâm sân, tâm si nổi lên liền biết, không theo.  Lúc đó chúng ta đã tự thắng mình:tức là tự kềm chế hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ của chính mình.  Người ta công kích, khích bác, vu khống, phỉ báng, phê phán, mạ lỵ, sỉ nhục, mắng nhiếc, người nào phản ứng nhanh, trả đũa nặng nề thì dễ quá, thường quá.  Người nào tự thắng tâm mình, nhẫn nhịn được mà không thấy nhục nhằn, nhịn mà không nhục, tâm trí vẫn an nhiên tự tại, mới đáng kính phục, mới là điều cao quí nhứt.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt; 13) Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Tâm khẩu nhứt như".  Nghĩa là: "Tâm khẩu không khác".&lt;br /&gt; Tâm nghĩ sao, miệng nói vậy.  Miệng thường nói tốt, tâm nên nghĩ tốt.  Như vậy, cuộc sống mới được an lạc.  Ngược lại, tâm nghĩ một đàng, miệng nói một nẻo, miệng nói như vậy, tâm không như vậy, nên sách có câu: Miệng thì nói tiếng nam mô.  Trong lòng chứa cả một bồ dao găm.  Ở trên đời này, đố ai lấy thước để đo lòng người.  Trong sách có câu: Tri nhân tri diện bất tri tâm, nghĩa là: biết người chỉ biết mặt, không biết được tâm địa.  Cho nên chư Tổ có dạy: Phản quan tự kỷ, nghĩa là: hãy quay lại, quán sát tâm chính mình, để giữ tâm khẩu nhứt như.&lt;br /&gt;* *&lt;br /&gt;14) Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy:&lt;br /&gt;"Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện".&lt;br /&gt;Nghĩa là: Khi khắc chế được tâm ý, trụ tâm ở một chỗ, bằng cách tụng kinh, niệm Phật, thiền quán, qua sự hiểu biết chánh pháp, tâm trí bình tĩnh thản nhiên, không còn chuyện gì để cãi vã nữa, để tranh chấp nữa, cho nên không có sự việc gì người tu tập không hiểu biết sáng tỏ, rõ ràng, không biện luận được một cách thông suốt.  Điều này giải thích rằng: không có vị Phật nào không biết thuyết pháp độ sanh.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-7733460819596564980?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='related' href='http://www.quangduc.com/coban/259chutam.html' title='Chữ Tâm trong đạo Phật'/><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/7733460819596564980/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=7733460819596564980&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/7733460819596564980'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/7733460819596564980'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/10/ch-tm-trong-o-pht.html' title='Chữ Tâm trong đạo Phật'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-98706106359721970</id><published>2007-10-19T00:05:00.001+08:00</published><updated>2007-10-19T00:05:19.359+08:00</updated><title type='text'>Báo hiếu cha mẹ như thế nào là thiết thực nhất?(nhìn từ kinh Báo Ân Cha Mẹ)</title><content type='html'>(Thầy Thích Viên Giác giảng)&lt;br /&gt;Ngoài những phương pháp báo hiếu cung phụng vật chất và an ủi tinh thần cho cha mẹ mà ai cũng biết , Kinh Báo Aân đề cập đến cách thức báo hiếu đặc biệt của Phật Giáo là giới thiệu chánh pháp để cha cha mẹ đoạn trừ gốc rễ của đau khổ , có ba phương pháp được đề cập :&lt;br /&gt;1)Khuyến cáo cha mẹ thực hành chánh pháp :&lt;br /&gt;Trong Kinh Tăng Chi Đức Phật dạy :" Những ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng , dâng cúng của cải vật chất tiền bạc , thì không bao giờ đủ để đáp đền ân cha mẹ . Nhưng này các Tỳ kheo , ai đối với cha mẹ không có lòng tin Tam bảo , thì khuyến khích cho có lòng tin Tam bảo , đối với cha mẹ sống tà giới , thì khuyến khích vào chánh giới , đối với cha mẹ sinh khởi lòng tham , thì khuyến khích bố thí ,đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến khích vào chánh kiến , cho đến như vậy , này các Tỳ kheo ,là làm đủ và đáp đền đủ cho cha và mẹ".&lt;br /&gt;Theo đạo Phật sự đau khổ thật sự chính là vô minh , lòng tham sân si đó là tác nhân gây đau khổ triền miên từ đời này đến đời khác . Chỉ có chánh pháp , chỉ có trí tuệ mới giúp cho cha mẹloại trừ gốc rễ đau khổ .&lt;br /&gt;Báo hiếu cho cha mẹ bằng vật chất và tình cảm thông thường chưa phải là biện pháp hoàn hảo , bởi lẽ có khi vì lý do vật chất , có thể làm cho cha mẹ của mình tăng thêm tội lỗi , tăng thêm lòng tham như người xưa thường nói :" Lòng tham của con người vô đáy". Vật chất hay những cảm giác lạc thọ của vật chất chỉ tạo thêm sự thèm khát và không bao giờ thoả mãn , sự đau khổ do đó không bao giờ chấm dứt được .&lt;br /&gt;Người Phật tử thấy được bề sâu của lý nhân quả nghiệp báo cho nên khuyến khích cha mẹ thực hành thiện pháp , tạo cơ hôi cho cha mẹ phát khởi thêm thiện tâm để chuyển báo nghiệp nhân xấu ác , xây dựng cho cha mẹ mình một cuộc sống bảo đảm hạnh phúc lâu dài trong hiện tại và cả tương lai .&lt;br /&gt;2)Vì cha mẹ thực hành tịnh giới, bố thí và các công tác lợi ích cho con người và xã hội :&lt;br /&gt;Sự thực hành thiện pháp của con người như giữ gìn nếp sống đạo đức , mở rộng lòng bố thí , tích cực làm các điều thiện giúp ích mọi người . Trước hết đó như là một phương cách làm gương mẫu để tạo cho cha mẹ được ảnh hưởng thiện duyên của con làm tăng cường và củng cố thiện tâm của cha mẹ . Mình khuyến cáo cha mẹ thực hành thiện pháp mà bản thân mình không thực hành thiện pháp thì sự khuyến cáo của mình sẽ mất tác dụng . Hơn nữa , khi thực hành thiện pháp , người con luôn hồi hướng công đức cho cha mẹ là sử dụng năng lực thiện tâm của mình hướng về cha mẹ , nó có tác dụng hổ trợ làm cho cha mẹ tăng trưởng thiện tâm .&lt;br /&gt;Mặt khác , mối quan hệ tương ứng giữa tâm lý củacha mẹ và con cái , rất tế nhị và đặc biệt . Luồng tâm thức giao cảm giữa cha mẹ và con cái rất dễ dàng ảnh hưởng qua lại lẫn nhau . Cho nên hành vi đạo đức của con rất dễ tác động đến lòng cha mẹ , như đã nói , con cái là niềm vui , là sự hy vọng của cha mẹ , con cái rất được cha mẹ chiều chuộng và làm theo ý thích của con . Tâm lý tuỳ thuận con cái là mảnh đất tốt để những người con gieo hạt giống thiện pháp cho cha mẹ bằng chính hành vi ngôn ngữ của mình .&lt;br /&gt;3)Truyền bá tư tưởng hiếu đạo cho mọi người :&lt;br /&gt;Truyền bá tư tưởng hiếu đạo cho mọi người là một phương pháp bổ sung cần thiết cho các phương pháp trên . Tác dụng của nó trước hết là tăng cường sức mạnh hiếu tâm của chính bản thân mình , được thường xuyên có mặt , tâm lý hiếu cũng như các tâm lý khác đều phát sinh và tồn tại có điều kiện , vì vậy nếu chúng ta không tạo điều kiện hâm nóng thường xuyên bằng những điều kiện thích hợp , lâu ngày tâm lý hiếu bị phai nhạt , có thể nói :" Xa mặt cách lòng" . Như vậy truyền bá tư tưởng hiếu đạo , có tác dụng trước hết là củng cố sức mạnh hiếu tâm của người con thường xuyên.&lt;br /&gt;Mặt khác , như đã nói đạo Phật quan niệm tất cả chúng sinh là cha mẹ của mình ngoài việc báo đáp thâm ân cha mẹ của mình hiện nay , người Phật tử còn có nhiệm vụ báo hiếu cho cha mẹ nhiều đời của mình bằng phương thức gián tiếp . Truyền bá tư tưởng hiếu đạo để cho những người con học tập và thực hành phương pháp báo hiếu đúng chánh pháp , đem đến lợi ích cho tất cả những người cha , người mẹ khác trong xã hội . Từ đó xây dựng một nền tảng đạo đức cơ bản cho xã hội con người , tâm hiếu là một tâm lý có tính văn minh , văn hoá . Truyền bá đạo hiếu sẽ tạo nên một truyền thống văn hoá tốt đẹp , để xã hội có điều kiện xây dựng hạnh phúc cho con người.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-98706106359721970?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/98706106359721970/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=98706106359721970&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/98706106359721970'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/98706106359721970'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/10/bo-hiu-cha-m-nh-th-no-l-thit-thc-nhtnhn.html' title='Báo hiếu cha mẹ như thế nào là thiết thực nhất?(nhìn từ kinh Báo Ân Cha Mẹ)'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-1834371321419335211</id><published>2007-10-19T00:01:00.001+08:00</published><updated>2007-10-19T00:01:57.528+08:00</updated><title type='text'>Công ơn cha mẹ dưới góc nhìn Phật giáo(nhìn từ bản kinh Báo Ân Cha Mẹ)</title><content type='html'>Công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục và giới thiệu con vào đời không thể phủ nhận được . Cha mẹ luôn luôn thương yêu con cái , hy sinh cuộc đời mình cho con cái về mặt tinh thần con cái là niềm vui , là niềm hy vọng của cha mẹ , nên khi nói đến cha mẹ là nói đến công ơn . Ca dao việt nam có nói :" Công cha như núi thái sơn , nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Trong các kinh điển Phật Giáo Nam Tông và Bắc Tông đều đề cao công ơn cha mẹ . Kinh tăng Chi Phật dạy :"Có hai hạng người , này các Tỳ kheo , ta nói không thể trả ơn được đó là mẹ và cha". Hoặc trong Kinh Đại Tập dạy :"Ở thời không có Phật , thờ kính cha mẹ tức thờ kính Phật". Cha mẹ ở đây đồng nghĩa với Phật ,điều đó cho thấy Phật giáo đề cao hiếu đạo tới mức nào .&lt;br /&gt;Chúng ta cũng biết có một số cha mẹ không ngó ngàng gì tới con cái , thậm chí ghét bỏ con cái , nhưng đó chỉ là trường hợp cá biệt . Phần lớn cha mẹ luôn thương yêu con cái , tình thương đó được biểu hiện ra bên ngoài một cách rõ rệt , đó là sự hy sinh tất cả cho con . Tình thương chân chính nào cũng được biểu hiện bằng sự hy sinh .Kinh báo ân cha mẹ đề cập đến sự hy sinh cho con cái và lòng thương của cha mẹ hướng về con cái , vui cái vui của con , buồn cái buồn của con , Trong 10 điều ân đức của cha mẹ đã cho thấy rõ tình thương bao la đó . Những lời kinh hết sức cảm động và chinh phục lòng người như : " Nhổ ngọt không tiếc nuối , nuốt đắng không phiền hà…Miễn sao con no ấm , đói khát mẹ nào từ" ( điều 4 )&lt;br /&gt;"Mẹ nằm chổ ướt át ,nâng con chổ ấm khô , đôi vú lo đói khát , hai tay che gió sương , yêu thương quên ngủ nghỉ , sủng ái hết giá lạnh , chỉ mong con yên ổn , mẹ hiền không cầu an" ( điều 5 )&lt;br /&gt;"Mẹ hiền ân hơn đất , cha nghiêm đức quá trời , che chở ân cao dày , cha mẹ nào tính toán , không hiềm không mắt mũi , không ghét què chân tay ,sinh con từ bụng mẹ , con đổi dạ thương ai" ( điều 6 )&lt;br /&gt;" Con đi đường xa cách , lòng mẹ bóng theo hình , ngày đêm không hả dạ , tối sớm nào tạm quên , khóc như vượn nhớ con , thương nhớ nát can trường … ( điều 8 )&lt;br /&gt;" Mẹ già hơn trăm tuổi , còn thương con tám mươi, ân ái có đoạn chăng chỉ hơi thở cuối cùng" ( điều 10 )&lt;br /&gt;Sự hy sinh cho con cái mà trong kinh đã đề cập , chỉ là những biểu hiện có giới hạn xuất phát từ lòng thương yêu vô hạn . Chính vì lòng thương yêu của cha mẹ đối với con cái là vô hạn , nên chúng ta không thể đáp đền nổi . Cho dù người con thực hành các công đức lớn lao như trong kinh đã đề cập thì cũng không trả được ân đức của cha mẹ . Bởi vì người con có làm gì đi nữa , lòng của người con đối với cha mẹ không thể sánh được lòng của cha mẹ đối với con cái , đúng như ca dao nước ta có câu :" Mẹ thương con biển hồ lai láng , con thương mẹ tính tháng tính ngày". Vì vậy, khi đề cập đến công ơn cha mẹ , các kinh đều cho rằng khó đền đáp nổi , là dựa vào tâm thức của người con đối với cha mẹ có giới hạn . Điều đó là một quy luật tâm lý muôn đời .&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-1834371321419335211?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='related' href='http://buddhismtoday.com/viet/vulan/047-chuhieu.htm' title='Công ơn cha mẹ dưới góc nhìn Phật giáo(nhìn từ bản kinh Báo Ân Cha Mẹ)'/><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/1834371321419335211/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=1834371321419335211&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/1834371321419335211'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/1834371321419335211'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/10/cng-n-cha-m-di-gc-nhn-pht-gionhn-t-bn.html' title='Công ơn cha mẹ dưới góc nhìn Phật giáo(nhìn từ bản kinh Báo Ân Cha Mẹ)'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-8074257094699647698</id><published>2007-10-18T23:57:00.000+08:00</published><updated>2007-10-18T23:57:12.942+08:00</updated><title type='text'>"Từ bi" trong đạo Phật</title><content type='html'>Từ bi trong đạo Phật&lt;br /&gt;Tỳ Kheo Thích Quảng Lực&lt;br /&gt;Chúng ta thường nói "Đạo Phật là đạo Từ Bi". Hầu như câu nói ấy đã đi vào lòng dân tộc Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung từ người già đến người trẻ đều biết rằng đạo Phật là Đạo thương người, thương vật cứu người, cứu vật và thương yêu tất cả chúng sanh. Đức Phật vì lòng Từ Bi vô lượng nên chính từ kim khẩu của Ngài nói ra tất cả các pháp và cứu độ tất cả chúng sanh nhằm mục đích là cứu khổ, ban vui cho chúng sanh được an lạc giải thoát.&lt;br /&gt;Cổ Đức có dạy :&lt;br /&gt;"Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc&lt;br /&gt;Bi năng bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ ".&lt;br /&gt;Tạm dịch :&lt;br /&gt;Lòng thương yêu có khả năng đem đến cho tất cả chúng sanh an vui,&lt;br /&gt;Lòng thương xót có khả năng cứu tất cả chúng sanh thoát khổ.&lt;br /&gt;Ý nghĩa của Từ Bi Tâm là :&lt;br /&gt;Từ Tâm : là tâm thương yêu tất cả chúng sanh sẵn sàng giúp đỡ họ, đem lại lợi ích và an vui cho mọi chúng sanh, không phân biết kẻ oán người thân, kẻ nghèo người giàu, kẻ ngu người trí v.v... từ tâm vô lượng có sức mạnh vô cùng tận, trừ được các tâm sân nhuế nơi chúng sanh, chế phục được những chúng sanh cực kỳ ác độc, hướng họ vào con đường thiện. Như đức Phật độ chàng Vô Não cũng vì Từ Tâm.&lt;br /&gt;Bi Tâm : là tâm thương xót chúng sanh đau khổ, sẵn sàng cứu vớt họ ra khỏi cảnh khổ đau.&lt;br /&gt;Bi Tâm vô lượng có sức mạnh vô cùng tận, giúp người tu hành vượt mọi khó khăn, thử thách trên bước đường hành đạo. Nhờ vậy mà người tu hành có thể bố thí những thứ khó bố thí, nhẫn những điều khó nhẫn, làm những việc khó làm, nhằm cứu khổ, cứu nạn cho chúng sanh được an vui. Như Ngài Quán Thế Âm cứu khổ chúng sanh vậy.&lt;br /&gt;Suốt trong quá trình tu học của người con Phật nếu thường ái niệm chúng sanh trong khắp mười phương, muốn được thấy họ an vui thì hành giả phải khởi Từ Bi Tâm.&lt;br /&gt;Từ Bi Tâm tương ưng với thọ, tưởng, hành và thức, duyên khởi nơi thân và khẩu, tác thành những hạnh Từ Bi.&lt;br /&gt;Từ Bi tâm pháp có sức mạnh vô cùng, duyên khởi các nghiệp thiện ở đời sau, ở nơi cõi sắc, từ tâm pháp dù là hữu lậu, dù là vô lậu, cũng làm căn bản cho các cõi thiền. Từ tâm tương ưng với bi tâm, nên trừ được tận gốc các ưu bi, khổ não của chúng sanh.&lt;br /&gt;Trong cuộc sống tu học nơi chốn Thiền môn thì làm sao tránh khỏi lỗi lầm sai sót, bởi vì người xưa có nói: " Nhân vô thập toàn " thì chỉ nhờ vào tinh thần Từ Bi cao thượng của đạo mà xóa bỏ đi các lỗi lầm. Để thể hiện tinh thần Từ Bi cao thượng rộng lớn ấy thì chúng ta phải thực hiện tánh bình đẳng để dìu dắt giúp đỡ nhau trên bước đường tu học như : "Người trí dạy người ngu, người sang giúp người hèn, người biết dạy người chưa biết, người khỏe giúp người yếu, người đi trước hướng dẫn người đi sau, người lớn dạy bảo người nhỏ v.v..." có được như thế thì đạo pháp mới hưng thịnh, tà ma không thể phá được, Tam Bảo được trường tồn. Ngược lại là không phải đạo Phật.&lt;br /&gt;Như tục ngữ có câu : "Chị ngã em nâng" hoặc "anh em như thể tay chân" hay "Thương người như thể thương thân ".&lt;br /&gt;Nếu trong chúng người nào trí tuệ thông minh xuất chúng mà không Tâm Từ Bi thì không thể thành tựu được đạo quả và đức độ vậy ! Bởi vì, đạo Phật chính là lòng Từ Bi.&lt;br /&gt;Đức Phật dạy rằng "Này các Tỳ Kheo từ tâm rộng lớn vô lượng, vô biên. Người khéo tu là người mở rộng Từ tâm đối với hết thảy muôn loài chúng sanh khắp mười phương thế giới. Bi tâm cũng vậy".&lt;br /&gt;Từ Tâm trừ được sân hận, xan tham, phiền não. Ví như ngọc Ma Ni để vào nước đục, khiến nước trở thành trong, người có Từ tâm xa lìa được ba độc tham, sân, si, cho nên dù gặp người đến mắng nhiếc đánh đập v.v... cũng vẫn giữ tâm bình thản, chẳng có sân hận.&lt;br /&gt;Như trong Luật Tỳ Ni có nói :&lt;br /&gt;"Pháp lực bất tư nghì&lt;br /&gt;Từ Bi vô chướng ngại..."&lt;br /&gt;Từ là duyên sanh lạc, cho nên người vào được Từ Tâm Tam Muội, liền trừ được các khổ, và liền được an vui. Người có Tâm Từ rộng lớn, vô lượng, duyên khắp chúng sanh, phá tan oán tặc, phiền não.&lt;br /&gt;Trái lại người có tâm nhỏ hẹp thường chấp các việc nhỏ, để rồi sanh tâm sân hận, áo não.&lt;br /&gt;Người có tâm rộng lớn có trí huệ rộng lớn là người tin nơi quả báo phước lạc, là người mong cầu Niết Bàn, thanh tịnh, thường tu tịnh giới.&lt;br /&gt;Người có tâm rộng lớn có trí huệ có thể biết hết thảy chúng sanh, mà chẳng sanh tâm phân biệt đối xử, lại từ niệm hết thảy chúng sanh, xem hết thảy chúng sanh như cha, mẹ, anh, chị, em, thân bằng quyến thuộc của mình, muốn cho hết thảy chúng sanh được an vui (Duyên chúng sanh).&lt;br /&gt;Do từ niệm hết thảy chúng sanh ở khắp mười phương, muốn thấy họ được an vui, mà phá trừ được chấp ngã. Vì sao 3 Vì do 5 ấm hòa hợp duyên khởi, mới có ngã tương tục sanh, nhưng ngã cũng do 5 ấm đều là tự tướng không, tự tánh không cả..&lt;br /&gt;Bởi nhân duyên như vậy ! Nên người có tâm từ thường nhất tâm từ niệm chúng sanh, thương xót chúng sanh, muốn chúng sanh được an lạc, để rồi tùy theo niệm khởi của chúng sanh, mà hiển bày các thiện pháp, nhằm đem lại sự an lạc cho họ (Duyên pháp).&lt;br /&gt;Đức Phật dạy : Từ Tâm Tam Muội được năm công đức đó là :&lt;br /&gt;- Vào lửa không bị thiêu cháy.&lt;br /&gt;- Ăn nhằm chất độc không bị chết vì ngộ độc.&lt;br /&gt;- Không bị nạn đao binh.&lt;br /&gt;- Không chết bất đắc.&lt;br /&gt;- Thường được chư vị Thiện Thần phò hộ.&lt;br /&gt;Người có Từ Bi Tâm thường được mọi người mọi vật kính mến và gần gủi, còn ngược lại thì không.&lt;br /&gt;Về Bi Tâm, trong kinh có nói : "Hành 32 hạnh Bi, Bi tâm tăng trưởng chuyển thành Đại Bi Tâm. Đại Bi là công đức của chư Phật và của chư Bồ Tát, là mẹ của Bát Nhã Ba La Mật. Bồ Tát, trước phải phát Đại Bi Tâm sau mới vào được Bát Nhã Ba La Mật.&lt;br /&gt;Cũng như hàng ngày chúng ta tụng kinh đến các bài sám có nhiều đoạn nói về Từ Bi Tâm như : "... Từ Bi vô lượng cứu quần sanh... hoặc... chư Phật Từ Bi gia hộ..."&lt;br /&gt;Từ và Bi thành tựu các công đức, dẫn đến viên thành đạo quả, bao gồm cả bốn vô lượng tâm. Như chúng ta thường tán thán Phật :&lt;br /&gt;"Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly&lt;br /&gt;Phật diện du như mãn nguyệt huy&lt;br /&gt;Phật tại thế gian thường cứu khổ&lt;br /&gt;Phật tâm vô xứ bất Từ Bi".&lt;br /&gt;Ý nghĩa "Từ Bi Tâm" thâm diệu sâu mầu. Bởi vì, về chữ Hán đều có ba bộ tâm ( ), nó nói lên lòng thương yêu bao trùm tất cả, đó là thương yêu mình, thương yêu người, và thương yêu tất cả chúng sanh. Đặc biệt là người Việt Nam và nhất là Phật Giáo quan niệm cho rằng : "Ba là tất cả, tất cả là ba". Nên chúng ta phát huy tinh thần "Từ Bi" cứu khổ ban vui của đạo một cách mạnh mẽ thực tế và chân thật để cùng nhau được an vui hạnh phúc.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-8074257094699647698?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/8074257094699647698/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=8074257094699647698&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/8074257094699647698'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/8074257094699647698'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/10/t-bi-trong-o-pht.html' title='&quot;Từ bi&quot; trong đạo Phật'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-6101992999968938630</id><published>2007-10-12T00:16:00.000+08:00</published><updated>2007-10-12T00:16:30.935+08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='5) Từ thiện'/><title type='text'>Từ thiện</title><content type='html'>&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-6101992999968938630?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/6101992999968938630/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=6101992999968938630&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/6101992999968938630'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/6101992999968938630'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/05/t-thin.html' title='Từ thiện'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-8923610178951240039</id><published>2007-10-12T00:03:00.000+08:00</published><updated>2007-10-12T00:03:53.628+08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='1) Nội Qui Blog'/><title type='text'>Nội Qui Blog</title><content type='html'>1)Sử dụng ngôn ngữ đúng chuẩn mực.&lt;br /&gt;2)Không lợi dụng blog để xuyên tạc,huỷ báng các tôn giáo khác.&lt;br /&gt;3)Bài viết nên xoay quanh các chủ đề về giáo lý đạo phật(của các tôn giáo khác cũng được),cuộc sống,các giá trị sống,...&lt;br /&gt;4)Bài viết phải sử dụng tiếng Việt và có dấu.&lt;br /&gt;5)Nếu bài viết không tuân thủ những qui định trên sẽ bị xoá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;*Nếu có thắc mắc về nội qui các bạn comment vào đây.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-8923610178951240039?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/8923610178951240039/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=8923610178951240039&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/8923610178951240039'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/8923610178951240039'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/05/ni-qui-blog.html' title='Nội Qui Blog'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-242685637362089480</id><published>2007-10-11T23:59:00.000+08:00</published><updated>2007-10-11T23:59:08.667+08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='2) Hướng Dẫn Sử Dụng'/><title type='text'>Hướng dẫn sử dụng</title><content type='html'>I)Cách víết bài:&lt;br /&gt;1)Click vào "Nhận Xét" hoặc "Comment"(ở cuối mỗi bài viết).Màn hình dùng để viết bài sẽ hiễn thị.&lt;br /&gt;2)Hoàn tất bài viết.&lt;br /&gt;3)Điền đúng Word Verification&lt;br /&gt;4)Chọn 1 trong 3 đối tượng:Google/blogger(nếu bạn có nick của block hoặc google),Other (đánh tên của ban vào ô name),Anonymous(gửi bài ẩn danh).&lt;br /&gt;5)Nhấp gửi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;*Nếu có thắc mắc về cách sử dụng các bạn comment vào đây.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-242685637362089480?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/242685637362089480/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=242685637362089480&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/242685637362089480'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/242685637362089480'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/05/hng-dn-s-dng.html' title='Hướng dẫn sử dụng'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-5406960650717348124</id><published>2007-10-11T23:57:00.000+08:00</published><updated>2007-10-11T23:57:05.659+08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='4) Tiếp nhận nghi vấn'/><title type='text'>Tiếp nhận thắc mắc</title><content type='html'>Đang chờ điều chỉnh bởi tác giả !&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-5406960650717348124?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/5406960650717348124/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=5406960650717348124&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/5406960650717348124'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/5406960650717348124'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/05/tip-nhn-v-gii-p-kh-khn-thc-mc.html' title='Tiếp nhận thắc mắc'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-1771373503183877587</id><published>2007-10-11T23:56:00.000+08:00</published><updated>2007-10-11T23:56:32.648+08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='3) Giải đáp thắc mắc'/><title type='text'>Giải đáp thắc mắc</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Đang chờ điều chỉnh bởi tác giả&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-1771373503183877587?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/1771373503183877587/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=1771373503183877587&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/1771373503183877587'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/1771373503183877587'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/05/gii-p-thc-mc.html' title='Giải đáp thắc mắc'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-8649054488662087307.post-8206042083211791585</id><published>2007-05-07T21:24:00.001+08:00</published><updated>2007-05-07T21:24:08.101+08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='****Nơi tiếp nhận ý kiến về việc xây dựng Blog'/><title type='text'>Nơi tiếp nhận ý kiến về việc xây dựng Blog</title><content type='html'>Rất mong ý kiến đóng góp của các bạn để Blog ngày càng hoàn thiện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin cảm ơn !&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/8649054488662087307-8206042083211791585?l=daophat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daophat.blogspot.com/feeds/8206042083211791585/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=8649054488662087307&amp;postID=8206042083211791585&amp;isPopup=true' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/8206042083211791585'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/8649054488662087307/posts/default/8206042083211791585'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daophat.blogspot.com/2007/05/ni-tip-nhn-kin-v-vic-xy-dng-blog.html' title='Nơi tiếp nhận ý kiến về việc xây dựng Blog'/><author><name>Phan Phước Yên Thao</name><uri>http://www.blogger.com/profile/05400560016322470329</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://i219.photobucket.com/albums/cc17/shapre_1986/23-09-07_2246.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
